Cơ Đốc nhân chân chính thường là “người lính giỏi của Đức Chúa Jêsus Christ” (II Ti-mô-thê 2:3) được Chúa trang bị một số khí giới như Lời Kinh Thánh ghi: “Vậy, hãy đứng vững, lấy lẽ thật (chân lý) làm dây nịt lưng, mặc lấy giáp bằng sự công bình (công chính), dùng sự sẵn sàng của Tin Lành bình an mà làm giày dép. Lại phải lấy thêm đức tin làm thuẫn, nhờ đó anh em có thể dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ. Cũng hãy lấy sự cứu chuộc làm mão trụ, và cầm gươm của Đức Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 6:14-17).

Người lính giỏi của Đức Chúa Jêsus Christ được trang bị “dây nịt lưng” đầu tiên, vì “dây nịt lưng” rất cần cho sức mạnh. Kế đến là “mặc lấy giáp bằng sự công chính”.

Sau khi tổ phụ loài người là A-đam và Ê-va phạm tội, thân thể con người “mất sự vinh hiển” (Rô-ma 3:23), thân thể “lõa lồ (naked)” (Sáng-thế ký 3:21), thấy mắc cở, tủi nhục, chẳng muốn để lộ ra ngoài. “Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho” (3:21).

Từ đó, quần áo chẳng những để che thân thể lõa lồ, còn để giữ thân thể an toàn và cho thân thể chút “vinh hiển” - đẹp. Rồi vì “vinh hiển” mà con người có “sắc phục” bầy tỏ địa vị, thế lực mình có. Tôn giáo cũng có “sắc phục” bày tỏ chức phận mình có từ thấp lên cao.

Kinh Thánh cho biết trong thời Cựu Ước có “sắc phục” - “Áo thánh cho A-rôn thầy tế lễ cả, và bộ áo cho các con trai người, đặng làm chức tế lễ” (Xuất Ê-díp-tô ký 31:10). Trong thời Tân Ước, Tin Lành chân chính không có “mầu áo”, không có “sắc phục” cho giới lãnh đạo. Chính Chúa Jêsus cũng không có “sắc phục” riêng biệt. Ngài ăn mặc như mọi người.

Kinh Thánh dạy người Cơ Đốc: “Chớ tìm kiếm sự trang sức bề ngoài … nhưng hãy tìm kiếm sự trang sức bề trong giấu ở trong lòng, tức là sự tinh sạch chẳng hư nát của tâm thần dịu dàng im lặng, ấy là giá quí trước mặt Đức Chúa Trời” (I Phi-e-rơ 3:3-4).

Thời xa xưa, người lính ra trận mặc áo giáp để bảo vệ thân, ngăn chặn tên bắn, giáo đâm. Áo giáp làm bằng da phía trong, lớp ngoài bằng đồng, che phủ cả trước lẫn sau. Lớp đồng được trang trí như tấm thân trần của người mặc, có bắp thịt nổi lên ờ ngực, ở phần bụng cũng có những bắp thịt nổi lên bốn múi hay sáu múi như người lực sĩ. Áo giáp bày tỏ tấm thân vững chắc với sức mạnh phi thường.

Cơ Đốc nhân chân chính là Người Lính Chúa phải mặc “áo giáp” tâm linh để bảo vệ thân, bảo vệ “người thánh và rất yêu dấu của Ngài” (Cô-lô-se 3:12). “Áo giáp” này là “sự công chính”. “Sự công chính” thuộc về đặc tính đặc tính “thánh” của Đức Chúa Trời. “Áo giáp” chỉ có một múi lớn là lòng “nhân từ” hay tình “yêu thương”, nên mặc “áo giáp” là “mặc lấy sự nhân từ (yêu thương)” (Cô-lô-se 3:12). Loại “yêu thương” mà Cơ Đốc nhân chân chính “mặc” là loại “yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta” (Rô-ma 5:5). Kinh Thánh đã bày tỏ “sự yêu thương của Đức Chúa Trời” như sau:

“Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự” (I Cô-rinh-tô 13:4-7).

Phần “tiêu cực” của tình yêu thương “chẳng” hơi nhiều. Phần “tích cực” của tình yêu thương “hay” chẳng bao nhiêu. Người đang chia sẻ niềm tin cùng quý độc giả và quý anh chị con cái Chúa xin trình bày điều tôi tin về phần “tích cực” của tình yêu thương.

- 1/ “Tình yêu thương hay nhịn nhục”. Sự “nhịn nhục” này là “nhịn nhục” với người, không “nhịn nhục” với hoàn cảnh hay trạng huống. “Nhịn nhục” không phải là dấu hiệu của sự nhút nhát hay hèn yếu, mà là dấu hiệu của một nội tâm vững mạnh để đè nén cơn “huyết khí chi nộ”, tìm phương giải cứu cho mình và cho người.

- 2/ “Tình yêu thương hay nhân từ”. Ta có thể là người tốt mà không “nhân từ”. Lời ta nói hay, nói đúng, song chưa chắc đã “nhân từ”. Theo tâm lý học, “nhân từ” là chất "ngọt ngào" của "tình yêu thương”. Ta cho kẻ đói ăn, ta là người tốt. Ta cho kẻ đói ăn ngon, thì quả có lòng “nhân từ”.

- 3/ “Tình yêu thương ... vui trong chân lý”. Đức Chúa Trời là “chân lý”, Đức Chúa Jêsus là “chân lý” (Giăng 14:6). Đức Thánh Linh là “Thần lẽ thật (Thần Chân Lý)”.

“Vui trong chân lý” là vui trong “ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 12:2). Tôi tin rằng quý mục sư, người hầu việc Chúa có bổn phận và trách nhiệm giãi bày “chân lý”, vì “Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật” (I Ti-mô-thê 2:4). Nhưng ngay các tín hữu lúc ban đầu cho đến ngày nay, một số khá đông chẳng “vui trong chân lý”, “bịt tai không nghe lẽ thật (chân lý), mà xây hướng về chuyện huyễn” (II Ti-mô-thê 4:4). Vì cớ đó mà người hầu việc Chúa chân chính (quý mục sư, quý thầy truyền đạo “chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành” (II Ti-mô-thê 4:5), “hầu cho chân lý của Tin Lành được vững bền trong anh em” (Ga-la-ti 2:5).

“Vui trong chân lý” vì tin vào Lời Chúa Jêsus phán: “các ngươi sẽ biết chân lý, và chân lý sẽ buông tha các ngươi” (Giăng 8:32) là “buông tha” những điều không hiệp với “công chính”.

Những điều không hiệp với “công chính” trong Cơ Đốc giáo được Kinh Thánh chỉ định: “ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy” (Ga-la-ti 5:19-21). Cơ Đốc nhân không dễ gì từ bỏ những điều này do sự “công chính” mình có. Nhưng dễ dàng từ bỏ khi biết “chân lý” như lời Chúa Jêsus phán : “các ngươi sẽ biết chân lý, và chân lý sẽ buông tha các ngươi” (Giăng 8:32). Cơ Đốc nhân “biết chân lý” là “bất chiến tự nhiên thành”, thắng được tư dục là “các việc làm của xác thịt” (Ga-la-ti 5:19). Trong bài thơ “Người Cơ Đốc” của thi-sĩ Tường Lưu có bốn câu sau đây :

         Nhưng thắng mình, khắc phục mình, khó nhất

         Tư dục mình đủ mọi thứ dỗ dành

         Khắc phục mình là đánh trận tốt lành

         Là xứng đáng mang danh Người Cơ Đốc

 - 4/ “Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự”. “Không thể dung thứ được” là điệp khúc của bài ca Vị Kỷ, là khúc nhạc dạo của trường ca Bi Thảm, được kết nối bởi những âm giai : trách cứ, oán hận, căm tức, với những cung bậc càng ngày càng cao, làm điên đảo người hát lẫn người nghe.

“Dung thứ” là một chiêu hóa giải hận thù, một đòn đánh gục tính vị kỷ, đồng thời cũng là chất liệu xây đắp sự yên tĩnh của tâm hồn, là hương thơm của tấm lòng vi tha, độ lượng. Theo Trang Tử, người sẵn lòng tha thứ cho kẻ khác là người biết giữ tấm lòng thanh thản, phán đoán tinh tường trong sự việc xẩy đến, để trút bỏ giận dữ, mở lòng độ lượng, sẵn sàng bỏ qua và dung thứ. Thầy Mạnh Tử cũng nói : Ở đời, người mà gặp phải kẻ dữ với mình một cách ngang ngược, thì nên coi mình như đi trong bụi rậm, vướng phải gai, chỉ nên thong thả dừng lại gỡ dần ra thôi, gai góc kia có biết gì mà đáng giận. Xử được như thế thì tâm mình không phiền não mà bao nhiêu oán hận cũng tiêu tan. Thầy Mạnh Tử còn dạy thêm : Trước những ngang nghịch người làm cho mình, phải xét xem mình đã đủ Nhân, đủ Lễ với người chưa. Nếu quả đã đủ Nhân, đủ Lễ với người đến ba lần, thế mà người vẫn nghịch với mình, thì người đủ Nhân, đủ Lễ được gọi là quân tử nói rằng : Hạng này càn dở, người mà đến như vậy thì có khác chi thú vật. Đối với thú vật, thì ta còn kể làm chi, giận chi cho mệt, dung thứ cho rồi.

Nhưng trong đời sống hàng ngày, chẳng một ai có thể sẵn lòng tha thứ cho kẻ một cách dễ dàng, hầu giữ được tấm lòng thanh thản, cũng chẳng một ai có thể lúc nào cũng phán đoán tinh tường trong sự việc xẩy đến, hầu trút bỏ giận dữ, mở lòng độ lượng, sẵn sàng bỏ qua và dung thứ.  Và cũng chẳng một ai có thể khi gặp phải kẻ dữ với mình một cách ngang ngược, thì nên coi mình như đi trong bụi rậm hầu không giận. Tất cả chỉ là những sự dạy dỗ xuông, không khả thi.

Nhưng trong tình yêu thương Cơ Đốc, sự dung thứ đòi thực thi mạnh mẽ trong đời sống Cơ Đốc nhân. Một lần Phi-e-rơ đến gần Chúa Jêsus mà hỏi rằng : “Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy” (Ma-thi-ơ 18:21-22). Phi-e-rơ đặt tiêu chuẩn tối đa bẩy lần, gấp đôi ba lần thường tình là sáu, thêm một lần ân huệ nữa là bẩy. Thế mà tiêu chuẩn Chúa đặt là “nhưng đến bảy mươi lần bảy”, không có nghĩa là 490 lần, song 70 lần cái số 7, nghĩa là dung thứ hoài. Người Cơ Đốc có “Tình yêu thương dung thứ mọi sự”. Chúa Jêsus dạy Cơ Đốc nhân cầu nguyện : “Xin tha tội lỗi cho chúng tôi (chúng con), như chúng tôi (chúng con) cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi (chúng con)” (Ma-thi-ơ 6:12).

- 5/ “Tình yêu thương ... tin mọi sự”. Đây không phải là tin mù quáng, tin đại, ai nói gì cũng tin, như “Kẻ ngu dốt tin hết mọi lời” (Châm-ngôn 14:15). Cơ Đốc nhân không “tin hết mọi lời nói”, nhưng “tin mọi sự” có thể diễn tả bởi “tình yêu thương”. Vì cớ đó mà Chúa Jêsus phán : “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy” (Giăng 13:34). Đối với Cơ Đốc nhân, ai chúng ta cũng có thể “yêu” như Chúa “đã yêu” chúng ta.

- 6/ “Tình yêu thương ... trông cậy mọi sự”. Bởi “tin mọi sự” mà nẩy sinh “trông cậy mọi sự”, là hi vọng “mọi sự” thành tựu.

- 7/ “Tình yêu thương ... nín chịu mọi sự”. Bộ bốn trong “tình yêu thương” thật tuyệt vời. “Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự (1), tin mọi sự (2) trông cậy mọi sự (3) nín chịu mọi sự (4)”. Xử sự “mọi sự” với mọi người trong “tình yêu thương” mà không thấy kết quả là dễ ngã lòng, thối chí. Để tránh ngã lòng, thối chí chỉ còn cách duy nhất là “nín chịu mọi sự”.

“Nín chịu” ở đây không nằm trong thế thụ động, nhưng ở thế năng động với ý chí sắt đá, với nghị lực kiên cường quyết tâm “nín chịu mọi sự” để đạt đến chiến thắng trọn vẹn. “Nín chịu mọi sự” mới có thể “dung thứ” “bảy mươi lần bảy” để giữ mối giao hòa, để người ngoại đạo nhận biết bản tính tốt lành của người Cơ Đốc. “Nín chịu” để có thể “ở tử tế với mọi người ... nhịn nhục, dùng cách mềm mại mà sửa dạy những kẻ chống trả, mong rằng(tin ... trông cậy) Đức Chúa Trời ban cho họ sự ăn năn để nhìn biết lẽ thật, và họ tỉnh ngộ mà gỡ mình khỏi lưới ma quỉ, vì đã bị ma quỉ bắt lấy đặng làm theo ý nó” (I Ti-mô-thê 2:24-26). Phao-lô đã áp dụng “yêu thương” như sau: “Ta vì cớ những người được chọn (Cơ Đốc nhân) mà chịu hết mọi sự, hầu cho họ cũng được sự cứu trong Đức Chúa Jêsus Christ, với sự vinh hiển đời đời” (II Ti-mô-thê 2:10). Mong rằng những người hầu việc Chúa đồng một tâm tình “chịu hết mọi sự”.

Thưa quý anh chị con cái Chúa,

Kinh Thánh dạy chúng ta rằng “Đức Chúa Jêsus Christ ... là Đấng công chính” (I Giăng 2:1). Cơ Đốc nhân chân chính, Người Lính Chúa “mặc lấy giáp bằng sự công chính” là “mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ” (Rô-ma 13:14), để “Chúa thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian nầy” (I Giăng 4:17). Áo giáp thuộc linh của chúng ta gồm bảy điều : “nhịn nhục”, “nhân từ”, “vui trong chân lý”, “dung thứ mọi sự”, “tin mọi sự”, “trông cậy mọi sự”, “nín chịu mọi sự”. Người Lính giỏi làm được là bởi Ân điển của Chúa (dựa trên Lẽ Thật), chứ không bởi sức riêng hay nương theo một triết lý nào khác.