Cơ Đốc nhân chân chính thường là “người lính giỏi của Đức Chúa Jêsus Christ” (II Ti-mô-thê 2:3) được Chúa trang bị một số khí giới như Lời Kinh Thánh ghi: “Vậy, hãy đứng vững, lấy lẽ thật (chân lý) làm giây nịt lưng, mặc lấy giáp bằng sự công chính, dùng sự sẵn sàng của Tin Lành bình an mà làm giày dép. Lại phải lấy thêm đức tin làm thuẫn, nhờ đó anh em có thể dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ. Cũng hãy lấy sự cứu chuộc làm mão trụ, và cầm gươm của Đức Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 6:14-17).
Người Lính Chúa được trang bị “giây nịt lưng” đầu tiên, vì “giây nịt lưng” rất cần cho sức mạnh. Kế đến là “mặc lấy giáp bằng sự công chính”. Kế đến là lấy “Tin Lành bình an mà làm giày dép” để đi. Tiếp theo là “lấy thêm đức tin làm thuẫn”.
Người Lính Chúa có “áo giáp” mặc để bảo vệ tấm thân. Người lính Chúa còn có “thuẫn” để “đỡ” tên, giáo của địch phóng vào. “Thuẫn” của người lính thời xưa chiều dài khoảng 125 cm, chiều rộng khoảng 95 cm làm bằng sắt, có lớp da phía sau “thuẫn”, và có vòng da để xỏ tay trái mang “thuẫn”. Người lính phải có mắt sáng nhìn hướng tên, giáo phóng tới và đưa “thuẫn” lên khỏi đầu để đỡ tên từ trên phóng tới hay giơ cao, hạ thấp đúng tầm tên, giáo phóng tới.
“Thuẫn” được ví là “đức tin” của Người Lính Chúa. Trong mọi sinh vật, chỉ con người có “niềm tin” (believe), vì con người có “tâm linh”. Khi Đức Chúa Trời dựng nên loài người, Kinh Thánh ghi: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng-thế ký 2:7).
Con người là “loài sanh linh”, có “tâm linh” để tương giao với Đức Chúa Trời. Sau khi loài người phạm tội, “tâm linh” bị tội lỗi làm hư hỏng nên không còn “chất lượng” tương giao với Đức Chúa Trời. Dầu vậy “tâm linh” vẫn sinh động nên con người phải “thờ phương” để đáp ứng nhu cầu “tâm linh”. Bởi đó con người tạo ra Đấng Thiêng Liêng để “thờ phương”.
Sau khi loài người phạm tội, Đức Chúa Trời đã chọn dân Y-sơ-ra-ên làm tuyển dân của Ngài, và Ngài ban cho dân sự Ngài 10 điều răn để tuân theo. Điều răn trước nhất về sự thờ phượng như sau:
“Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác (Đức Chúa Trời khác). Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó” (Xuất Ê-díp-tô ký 20:3-5).
Vì nhu cầu “tâm linh” mà con người tạo ta nhiều “Đức Chúa Trời” khác để “thờ phượng”, và tạo ra nhiều “hình tượng” để “thờ phượng”. Ngay trong Cơ Đốc, nhiều giáo phái cũng có những “hình tượng” riêng : “Hình tượng” Chúa Jêsus, bà Ma-ri, các thánh được phong. Công giáo La-mã có “hình tượng” Thập Tự Giá với “tượng” Chúa bị đóng đinh. Đã có mẩu chuyện, một số người Công Giáo sau khi sau khi cầu trước tượng Bà Ma-ri xin Bà cứu giúp người thân, xong sau đó lại đến trước “hình tượng” Chúa Jêsus bị đóng đinh để cầu xin Chúa ra tay cứu giúp. Tôi chợt nghĩ, Chúa Jêsus chắc chẳng nhậm lời cầu của cho những vị này.
“Hình tượng” lớn, nhỏ, phần nhiều bằng đất sét nung, bằng đá “đẽo đục”, bằng gỗ “khắc”, bằng kim loại đồng, bạc, vàng “đúc”. Bởi vậy “hình tượng” có giá khác nhau. Ngày chỉ có “Phật Ngọc” nhỏ mà giá cao.
Động cơ “thờ phượng” là “niềm tin” (belief). “Niềm tin” khó phân định chính xác, nhưng nó tạo ra sức mạnh để con người vươn lên. Nó phát ra ý nghĩa “niềm tin” ở những giờ phút trong cuộc sống. Mất “niềm tin” kể như mất tất cả ý nghĩa hướng đi của cuộc đời.
Đặt “niềm tin” nơi mình, chính mình không “tin” nổi. Đặt “niềm tin” nơi người, “nhân vô thập toàn”, dè dặt vẫn là khôn ngoan. Lạ một điều con người đa số không đặt “niềm tin” nơi Đấng Sống, song đặt “niềm tin” nơi người chết, nơi quý vị thần thánh linh thiêng nào đó để được an tâm.
Trong một đêm trăng vằng vặc, Đức Phật chỉ mặt trăng và nói cùng đệ tử rằng : Kia là mặt trăng, cứ ngó theo ngón tay thì thấy. Nhưng nên nhớ : ngón ay ta không phải là trăng. Những lời ta giảng về đạo cũng vậy. Các con cứ nghe lời ta giảng mà tìm đạo và nhớ lời giảng của ta không phải là đạo.
Nhưng Ba Ngôi Đức Chúa Trời là Đấng Sống. Chúa Jêsus phán với mọi người: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14:1-3). Chúa Jêsus phán về Ngài để chúng ta tin: “Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6).
Thưa quý anh chị con cái Chúa,
Đối tượng “niềm tin” của Cơ Đốc nhân là Ba Ngôi Đức Chúa Trời tức là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Linh. Sinh động trong niềm tin là “đức tin”. Lời Kinh Thánh cho Cơ Đốc nhân biết về “đức tin” của mình như sau: “Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy” (Hê-bơ-rơ 11:1). Chúng ta hãy nghe lời chứng của Thánh Phao-lô về “đức tin” đích thực của Ti-mô-thê: “Về phần con, hãy đứng vững trong những sự con đã đem lòng tin chắc mà học và nhận lấy, vì biết con đã học những điều đó với ai, và từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ. Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công chính, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (II Ti-mô-thê 3:14-17).
Cơ Đốc nhân sau khi “được cứu bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ”, Cơ Đốc nhân sẽ là: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin” (Rô-ma 1:17), là “sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20).
“Sống bởi đức tin” là “sống” theo lời Chúa dạy. “Đức tin” phát xuất từ Lời Chúa, là Lời mà Chúa Jêsus khẳng định: “Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống” (Giăng 6:63), là “lời” mà Phi-e-rơ nhận thức: “Lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là Tin Lành” (I Phi-e-rơ 1:25).
Thưa quý anh chị con cái Chúa,
“Thuẫn” được ví là “đức tin” của Người Lính Chúa. “Đức tin” nơi “Lời Chúa” của Cơ Đốc nhân chân chính còn được Đức Thánh Linh là “Thần Chân Lý” đến ở với chúng ta: “Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, tức là Thần Chân Lý, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài” (Giăng 14:16-17) hầu “đức tin” của chúng ta được vững bền.
Cơ Đốc nhân chân chính lấy thêm “đức tin” làm “thuẫn” thuộc linh để ngăn chặn ý đồ ma quỷ xuyên tạc (“tên lửa”) lời Kinh Thánh qua sự giảng dạy của các vị Mục Sư, Truyền Giáo, và cả các nhà lãnh đạo Hội Thánh Chúa quả là đã “có thể dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ”. Điều này không lạ, vì chính Chúa Jêsus cũng bị ma quỷ dùng Lời Kinh Thánh cám dỗ: “Đức Chúa Jêsus đầy dẫy Đức Thánh Linh, ở bờ sông Giô-đanh về, thì được Đức Thánh Linh đưa đến trong đồng vắng, tại đó, Ngài bị ma quỉ cám dỗ trong bốn mươi ngày. Trong những ngày ấy, Ngài không ăn chi hết, kỳ đã mãn thì Ngài đói. Ma quỉ bèn nói với Ngài rằng: Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, thì hãy khiến đá nầy trở nên bánh đi. Đức Chúa Jêsus đáp: Có chép rằng: Loài người được sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi. Ma quỉ đem Ngài lên, cho xem mọi nước thế gian trong giây phút; và nói rằng: Ta sẽ cho ngươi hết thảy quyền phép và sự vinh hiển của các nước đó; vì đã giao cho ta hết, ta muốn cho ai tùy ý ta. Vậy, nếu ngươi sấp mình xuống trước mặt ta, mọi sự đó sẽ thuộc về ngươi cả. Đức Chúa Jêsus đáp: Có chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi. Ma quỉ cũng đem Ngài đến thành Giê-ru-sa-lem, để Ngài trên nóc đền thờ, mà nói rằng: Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy gieo mình xuống đi; vì có chép rằng: Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ ngươi. Các đấng ấy sẽ nâng ngươi trong tay, Kẻo ngươi vấp chân nhằm đá nào chăng. Đức Chúa Jêsus đáp: Có phán rằng: Ngươi đừng thử Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ma quỉ dùng hết cách cám dỗ Ngài rồi, bèn tạm lìa Ngài” (Lu-ca 4:1-13). Ngay trong Hội Thánh đầu tiên, con cái Chúa “ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật (có đúng “chân lý” chăng” (Công-vụ các Sứ-đồ 17:11). Ngay trong thời Thánh Phao-lô cũng như thời nay, có những người “một Jêsus khác ... một Thánh Linh khác ... một Tin Lành khác” (II Cô-rinh-tô 11:4). Phao-lô ngạc nhiên: “Tôi lấy làm lạ cho anh em đã vội bỏ Đấng gọi anh em bởi ơn Đức Chúa Jêsus Christ, đặng theo tin lành khác. Thật chẳng phải có tin lành khác, nhưng có mấy kẻ làm rối trí anh em, và muốn đánh đổ Tin Lành của Đấng Christ” (Ga-la-ti 1:6-7).
Chúa Jêsus đã nói đến sự việc này như sau: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!” (Ma-thi-ơ 7:21-23).
Tạ ơn Chúa, vẫn còn những người “giảng Tin Lành” chịu khó tuân theo lời Kinh Thánh dạy: “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước” (Giô-suê 1:8). Thế mà, một số nhà “lãnh đạo” Hội Thánh hữu hình đã nối gót những người Pha-ra-si “ngồi trên ngôi của Môi-se” (Giăng 23:2) viết thêm “giáo điều”, nay thêm, mai bớt cho phù hợp thời thế. Tội nghiệp, một số con cái Chúa đã bị “chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra” (Mác 7:7) thì làm sao có “đức tin” sống động đích thực.
Một số vị lãnh đạo có phận sự “dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi” (Ma-thi-ơ 28:20) cho con cái Chúa. Trong tay họ có Kinh Thánh và họ dạy Kinh Thánh, giảng Kinh Thánh. Mặc dầu đang sống trong thời đại của Đức Chúa Thánh Linh, là Đấng “dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật (chân lý)” (Giăng 16:13), thế mà họ vẫn như các môn đồ xưa kia “không hiểu lời ấy ” (Lu-ca 9:45), lại chẳng ước ao được “mở mắt … để … thấy Sự lạ lùng trong luật pháp của Chúa” (Thi-thiên 119:18), nên thay vì dạy, giảng “chân lý”, những vị này quay qua dạy, giảng “luân lý”, “triết lý” đạo, thì làm sao có “đức tin” đích thực để “sống bởi đức tin”.
Chính Chúa Jêsus cũng biết nỗi khó khăn trong việc “chính Ngài đã cho ... người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư” (Ê-phê-sô 4:11). “Người giảng Tin Lành” là “đạo đức tin mà chúng ta giảng dạy” (Rô-ma 10:8). Vậy: “Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của chân lý” (II Ti-mô-thê 2:15).
“Đức tin” nơi Cơ Đốc nhân thúc đẩy Cơ Đốc nhân nói về đức tin” của mình cho mọi người. “Chúng tôi tin, cho nên mới nói” (II Cô-rinh-tô 4:13), và nói với “sức mạnh của sự tin quyết” (I Tê-sa-lô-ni-ca 1:5). Khi Cơ Đốc nhân chân chính thấm “Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết chân lý” (I Ti-mô-thê 2:4) là chúng ta quyết tâm “làm thành ý muốn Ngài, và làm ra sự đẹp ý Ngài trong chúng ta” (Hê-bơ-rơ 13:21).
Giới thiệu thơ
Chân Lý
Ngàn xưa chân lý xuống đời Sáng soi nơi tối, dẫn đường người ngay
Hai ngàn năm đã thoáng bay Lời chân lý vẫn giãi bày cứu ân
Hỡi người trong cõi lạc lầm Nghe chân lý gọi sao đành bỏ qua?
Trời, người nay đã giao hòa Quyền năng chân lý buông tha mọi bề
Dứt con đường cũ, bến mê Giờ đây chân lý đưa về tình thương.
***
Tạ ơn chân lý vô cùng Khai tâm cho kẻ hết lòng tin theo
Thi sĩ Tường Lưu