Thi-Thiên (Psalm) 100

1 Hỡi cả trái đất, Hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giê-hô-va!
2 Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài.
3 Phải biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài; Chúng tôi là dân sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài.
4 Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, Hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài. Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài.
5 Vì Đức Giê-hô-va là thiện; sự nhân từ Ngài hằng có mãi mãi, Và sự thành tín Ngài còn đến đời đời.
Suy gẫm:
Thi-Thiên 100 và 145 được gọi là “Thi-Thiên Tạ Ơn” (Psalm of Praise). Trong Thi-Thiên này tác giả ca ngợi Chúa vì Ngài là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Rỗi của dân sự Ngài. Tác giả kinh nghiệm được sự nhân từ và thành tín của Chúa trong đời sống cá nhân và dân sự của Ngài. Tác giả sử dụng một số động từ quan trọng để nói lên đặc điểm của người biết ơn Chúa như sau:
1/ “Cất tiếng reo mừng” (make a joyful noise) cho Đức Giê-hô-va (c. 1). Động từ “cất tiếng reo mừng” (ruwa’) được đề cập 37 lần trong toàn bộ kinh Cựu Ước, sử dụng để mô tả hành động la lớn tiếng (shout) hay tạo nên tiếng động rất ồn ào (loud noise). Ngày xưa, người ta la hét lớn tiếng trước đạo quân đối phương để làm cho kẻ thù khiếp sợ trốn chạy (Giô 6:10, 16, 20; I Sa 4:5; 17:20; II Sử 13:15). Đôi khi đây cũng là tiếng bật khóc của nỗi vui mừng đáp ứng lại với việc Chúa giải cứu dân sự của Ngài (Thi 47:1[2]; 95:1, 2; Ê-sai 44:23). Trong một số trường hợp khác, đây là tiếng reo mừng chiến thắng kẻ thù. Hay đôi lúc đó là lời hiệu triệu ra trận thường đi chung với tiếng kèn thổi (Dân 10:9; II Sử 13:12).
Tại đây, tác giả Thi Thiên muốn nói đến lòng biết ơn Chúa dâng trào từ trong lòng và tuôn tràn ra thành tiếng, thành lời vì kinh nghiệm tình yêu của Chúa đối với mình. Phải nói ra. Phải cất tiếng lên để ca ngợi Chúa. Sự vui mừng bên trong bộc lộ ra bên ngoài thành lời ca tiếng hát thật to! Nhìn vào cách chúng ta ca ngợi Chúa, người khác có thể biết lòng chúng ta đang vui mừng vì biết ơn Chúa hay sầu thảm vì thất vọng và chán chường.
2/ “Hầu việc” (serve) và “hát xướng” (singing) đến trước mặt Chúa (c. 2). Động từ “hầu việc” (‘abad) có nghĩa là “làm việc” hay “phục vụ” cho một đội tượng hoặc là con người hoặc là Đức Chúa Trời. Khi sử dụng cho sự phục vụ Chúa thì được hiểu trong bối cảnh của sự thờ phượng trong đền thờ. Như trong trường hợp động từ này dùng nói đến công việc của A-đam và Ê-va trong vườn Ê-đen ngày xưa (Sáng 2:15).
Lối nói song hành của Thi-Thiên cho thấy hầu việc Chúa với sự vui mừng (gladness) có nghĩa là đến trước mặt Chúa bằng sự hát xướng. Khi hát ca ngợi Chúa là chúng ta hầu việc Ngài. Hầu việc Chúa đồng nghĩa với tôn cao danh của Ngài, không nhằm đề cao cá nhân hay phô trương tài năng cho con người thấy. Chỉ khi nào chúng ta hát với tinh thần tôn cao danh Chúa, khi đó Chúa mới xem là chúng ta đang hầu việc Ngài.
3/ “Biết” (know) rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời (c. 3). Tác giả cho mọi người biết sự hiểu biết của ông về Đức Chúa Trời: Ngài là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc. Có hai phương diện của vấn đề: (a) Về phần của tác giả, vì sự sống này, cuộc đời này do Chúa ban cho và thuộc về Ngài nên phải thờ phượng Ngài và cảm tạ Ngài; (b) về phần của Chúa, vì Ngài là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc nên Ngài có trách nhiệm bảo vệ và dẫn dắt dân sự của Ngài.
Người cảm tạ Chúa là người phải biết Chúa là ai? Sự hiểu biết Chúa của chúng ta sẽ ảnh hưởng trên đời sống phục vụ và thờ phượng Ngài của chúng ta. Chính vì thế, điều kiện tiên quyết cho người muốn thờ phượng Chúa và hầu việc Chúa, đặc biệt trong lãnh vực thờ phượng trong Hội Thánh, cần phải học biết Chúa qua Lời của Ngài và qua kinh nghiệm sống với Lời của Chúa mỗi ngày. Chúng ta không thể mang người ngoại hay người chưa được tái sanh vào trong Hội Thánh để ca hát hay tham gia vào sự thờ phượng Chúa vì họ chỉ làm “việc thờ phượng” nhưng không phải là “người thờ phượng” chân thật. Họ chỉ là người có khả năng về âm nhạc nhưng không có sự hiện diện của Chúa Thánh Linh để có thể thờ phượng Chúa bằng “tâm thần và lẽ thật" như điều Chúa muốn (Giăng 4:24).
4/ “Cảm tạ”(thank) và “ngợi khen” (praise) Chúa trong nhà của Ngài (c. 4-5). Qua việc tác giả sử dụng các từ “cửa” và “hành lang” của Ngài, câu 4 nói đến sự thờ phượng trong đền thờ ngày xưa. Mục đích duy nhất trong sự thờ phượng là “cảm tạ” và “chúc tụng danh của Chúa.” Chính Đức Chúa Trời, không phải con người, thiết lập sự thờ phượng. Ngài phải là đối tượng duy nhất trong sự thờ phượng. Chúng ta không được phép sử dụng sự thờ phượng để làm đẹp lòng con người và tạo ra cách thờ phượng để cho ai nấy cũng có phần hầu làm vui lòng mọi người. Ngày xưa sự thờ phượng trong đền thờ được hướng dẫn bởi các thầy tế lễ là thành phần Chúa chọn và biệt riêng ra cho chức vụ này; ngày nay sự thờ phượng trong hội thánh cũng được hướng dẫn bởi các mục sư, truyền đạo là thành phần Chúa chọn lựa và kêu gọi cho chức vụ cao trọng này. Tất cả những gì thực hiện trong sự thờ phượng không đến từ Đức Chúa Trời và theo sự quy định của Lời Chúa đều được xem là “dâng lửa lạ” cho Ngài. Sở dĩ con người tội lỗi, xấu xa như chúng ta được Chúa cho phép đến gần thờ phượng Ngài vì sự thiện hảo (His goodness) và sự nhân từ Ngài (His lovingkindness) hằng có mãi mãi, và sự thành tín Ngài (His faithfulness) còn đến đời đời. Đây là chỗ dựa duy nhất của chúng ta trong sự thờ phượng để đến gần Ngài. Hội Thánh là nơi duy nhất trong trần gian này con người khám phá và nhận biết Chúa là ai để có thể thờ phượng Ngài cách chân chính. Nguyện sự thương xót của Chúa tiếp tục theo đuổi mỗi chúng ta ngày hôm nay và trọn cả đời để thờ phượng và cảm tạ Ngài mãi mãi. Amen!