Chữ “Lễ” có thể được coi là một trong năm loài hoa đẹp tượng trưng cho  “Nhân”, “Lễ”, “Nghĩa”, “Trí”, “Tín” trong vườn hoa “Chân Thiện Mỹ” của nhân loại.
 
Hồi học tiểu học tại Hà Nội năm 1951, có môn Đức Dục thường được các thầy giáo, các cô giáo chỉ dạy kỹ lưỡng. Về nhà lại được ông bà, bố mẹ dạy thực hành. Làm con phải kính hiếu, lễ phép, vâng lời ông bà, cha mẹ. Anh em phải trên kính dưới nhường. Đối với chú bác cô dì phải lễ phép, đối với anh em họ cũng phải theo tôn ti trật tự. Sau đó khi di cư vào Nam, tôi còn được nghe các bác tôi dạy các chị họ tôi, phải biết “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nghĩa là lúc còn ở nhà với cha mẹ, phải theo cha, lúc lấy chồng theo chồng, chồng chết phải theo con. Con gái phải công dung ngôn hạnh, con trai phài trung hiếu tiết nghĩa. Chữ Lễ thời xưa đi xâu vào trong tâm con người.  
 
Sống ở hải ngoại lâu năm, chúng ta thường thấy các cô cậu thanh thiếu niên có thái độ “tự tin”, coi bố mẹ, ông bà như ngang hàng với mình, coi anh em là những cá thể độc lập. Vợ chồng thì nam nữ bình quyền, anh đi làm tôi cũng đi làm, chuyện nhà chia đôi, lẽ tất nhiên việc gì nặng nhọc thì chồng phải làm. Hầu hết, sống ít lâu rồi cũng đành quen. Khi sang thăm bố mẹ ở Hoa Kỳ năm 1985, tôi đã từng gặp một vài cặp vợ chồng trẻ, chẳng hiểu có phải vì giận nhau hay không, mà người vợ nói rất bình tĩnh “Anh gặp một phụ nữ khác mị lực hơn, xin cho biết. Ký giấy ngay. Lẽ tất nhiên nếu tôi gặp một người phái nam mị lực hơn, tôi cũng sẽ cho anh biết.”. Cái xã hội vật chất, cá nhân chủ nghĩa hình như đã đè bẹp những cái đẹp của hai chữ “lễ nghĩa” của thuở xa xưa. Mỗi lần chợt gặp một cháu nhỏ khoanh tay cúi đầu chào, chúng ta hay khen “Cháu lễ phép, dễ thương quá”, đó là dư hương của xã hội ngày xưa xót lại mà mọi ông bà già mong muốn. Chữ Lễ thời nay thật hiếm.
 
Bác sĩ giải phẫu chuyên khoa người Pháp Alexis Carrel, được giải thưởng Nobel về y khoa năm 1912, trong cuốn Reflexions Sur La Conduite De La Vie, xin tạm dịch là “Những phản ảnh trên hành vi của đời sống”, cho rằng có 3 định luật chi phối đời sống con người. Đó là
1. Định luật bảo vệ sinh mạng (Loi de la conservation de la vie)
2.Định luật sinh sản (Loi de la propagation de la race)
3.Định luật tiến hóa tinh thần (Loi de l’évolution de l’esprit)
 
Theo ông, tiến hóa tinh thần là trau dồi tình cảm, mở mang trí tuệ để nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, tiến lên chân, thiện, mỹ để xứng danh “con người”. Nếu không, con người sẽ thoái hóa gần giống như súc vật. Tức là con người phải biết loại bỏ “cái dở”, là cái làm cho đời sống cá nhân, gia đình, xã hội bệnh hoạn, rối loạn, vô luân, phi lý, vô nghĩa và đau khổ. Và là phải biết lấy “cái hay”, là cái làm cho đời sống cá nhân, gia đình, xã hội được lành mạnh, hòa hợp, trật tự, cuộc sống có nghĩa lý, thỏa lòng. “Cái hay” này gọi là lễ.
Ngày xưa người đời sống chất phác, dựa trên những định luật thiên nhiên, lấy nội tâm làm tiêu chuẩn, con người sống trọng lễ.
Ngày nay, nhiều người sống khôn lanh dựa trên những quy ước trong xã hội làm tiêu chuẩn. Con người sống trong luật lệ đầy những lỗ hổng, khiến nhân loại hầu như ở trong trạng huống “thật thật hư hư” của lễ.
 
Xã hội tây phương với văn hóa duy vật, thiên về lý trí khoa học thực nghiệm. Nên lễ của tây phương có tính cách “động”. Lễ hướng về “động”, bộc lộ tình cảm tự nhiên. Bè bạn, họ hàng thân thuộc gặp nhau là tay bắt, mặt mừng, ôm nhau, vỗ về, hôn nhau.
 
Xã hội đông phương với văn hóa duy tâm, thiên trọng về tình cảm, hòa đồng với thiên nhiên. Nên lễ của đông phương có tính cách “tĩnh”. Lễ hướng về tĩnh, bè bạn, họ hàng thân thuộc gặp nhau chỉ khom mình chào, xá dài một vài cái. Tâm tình thường chịu ẩn hơn hiện, hành động thường được tự chế.
Nho Giáo của Trung Hoa có ba bộ kinh lễ : Chu Lễ, Nghi Lễ và Lễ Ký.
 
Trong đó Lễ Giao, Lễ Xã, Lễ Thường và Lễ Đế dạy dân chúng biết cách đối  với Trời, Thần Minh (nhưng không cho biết Trời là Đấng nào).
Lễ Quân Thần, Phu Phụ, Phụ Tử, Huynh Đệ, Trưởng Ấu dạy người đối xử với nhau, bao gồm có thập nghĩa : Quân nhân (Vua phải nhân từ), Thần Trung  (Thần phải trung thành),  Phụ từ (Cha phải khoan dung, từ tốn), Phu nghĩa (Chồng phải có nghĩa), Phụ thính (Vợ phải nghe lời), Tử hiếu (Con phải hiếu thảo), Huynh lương (Anh phải tốt lành), Đệ dễ (Em phải kính thuận), Trưởng huệ (Người đứng đầu phải ban ơn), Ấu thuận (người trẻ phải vâng phục).
 
Ngày xưa, ai ai cũng biết lễ là trọng. “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ giúp ta nuôi dưỡng tính tốt, ngăn chặn tánh xấu, điều hòa tình cảm, xác định tôn ti, phân biệt đúng sai, phải trái, đem lại sự hòa hợp giữa mình với người, Lễ cũng rèn luyện con người trở nên thanh lịch, cho nhân cách phát triển.
 
Nhưng ngày nay, các lễ nghi, mỹ tục đã lần lượt đi vào dĩ vãng. Trong chính quyền vẫn có ban Nghi Lễ, ngoài đời vẫn còn cách xã giao. Nhưng người trần thế thời đại này không còn đặt nặng “Lễ” nữa. Ngày nay người ta không sợ thất lễ mà sợ phạm luật, điều này đủ nói lên sự đi xuống thảm hại trong việc giữ lễ với nhau, sự rối loạn trong tương quan giữa người với người.
Một số người Việt, trên 50 tuổi,  sống ở các nước tây phương, không phải đã quên hết nền tảng đạo đức của chữ “Lễ”, không phải họ không có thiện chí, mà họ có lối suy nghĩ và hành sử như tây phương, phản bội vợ, ly dị để sống thật vị kỷ.
 
Nguyên thủ các quốc gia văn minh như cựu tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton, cựu thủ tướng Úc Đại Lợi Bob Hawke, đương kim tổng thống Pháp Quốc Francois Hollande, những người theo Đạo Chúa, ngoại tình, phản bội vợ, người phối ngẫu, rồi ly dị, không phải không biết thủy chung với vợ là “Lễ Nghĩa”, cũng không phải họ thiếu thiện chí.
Nhưng trong tất cả những trường hợp nêu trên, chỉ tại “Lực bất tòng tâm”- “ tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối” (Ma-thi-ơ 26:4). Và con người trần thế đều có chung một tâm trạng như  Thánh Phao Lô “Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét…. Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn; vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn….. Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi.” (Rô-ma 7:15,18-19,21).
 
“Không có quyền (năng lực) làm trọn”, đó là thực trạng của người trần thế, trong đó có cả con cái Chúa chúng ta. May mắn cho ai có được một môi trường tốt, để bông hoa “Lễ Nghĩa” nẩy nở trong tâm, phát triển nhân cách theo “chân, thiện, mỹ” đi nữa, làm sao giữ cho bông hoa đẹp này vĩnh viễn trong tâm đây?,
Thưa quý anh chị con cái Chúa,
 
Muốn giữ cho bông hoa “Lễ Nghĩa” trong lòng vĩnh cửu không chi bằng đem cành hoa trở về gốc để được tiếp nối với nguồn sống của nó. Trong niềm tin của chúng ta, tất nhiên cái gốc đó hẳn là Đức Chúa Trời, là Đấng Tạo Hóa, nguồn cội của mọi tạo vật. Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời thành nhân đã phán rằng : “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh” (Giăng 15:5).
 
Con cái Chúa chúng ta là nhánh. Mà : “ Như nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết quả được.” (Giăng 15:4). Tự mình không đủ năng lực để có “cái hay”, cái lễ đối với Đấng Tạo Hóa và đối với nhau. Chúa Jesus quả quyết rằng : “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái” (Giăng 15:5). Chỉ trong Chúa chúng ta mới có đủ năng lực để giữ lễ với Đấng Tạo Hóa qua sự thờ phượng Ngài, và giữ lễ với nhau một cách bền vững, giao hòa với nhau trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời, qua những gì chúng ta được Đức Thánh Linh dạy : “lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ” (Ga-la-ti 5:22) .
 
Thật phước hạnh vì chúng ta đã “tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và (sống trong) sự công bình của Ngài ” (Ma-thi-ơ 6:33). Chúng ta đã trở về nguồn, trở về với Đức Chúa Trời, tìn nhận Chúa Jesus, Đấng Cứu Rỗi, nên chữ “Lễ” sẽ vĩnh viễn trong tâm chúng ta.
Đinh Quốc Tuấn