DẪN NHẬP THI THIÊN 119.

I/ CHỦ ĐỀ (theme):
1/ Chủ đề của Thi thiên hiệp nhất nầy (the theme of this unique psalm) là Lời của Đức Chúa Trời (the Word of God).
2/ Mỗi câu trong Thi 119 (trừ năm câu: 84, 90, 121, 122 và 132) đều đề cập đến Lời của Đức Chúa Trời, trong đó đề cập đến:
* Lời của Đức Chúa Trời dạy gì (what it is).
* Lời của Đức Chúa Trời có thể tác động gì trên đời sống của bạn (what it can do in your life).

II/ SỰ SẮP XẾP (the arangement):
1/ Sự sắp xếp trật tự của Thi thiên 119 cũng khác thường (the arrangement is also unique).
* Thi thiên 119 chia làm hai mươi hai phần (twenty-two sections) và có tám câu cho mỗi phần (eight lines each).
* Và những câu trong mỗi phần cá biệt (the lines in each individual section); đều bắt đầu với cùng một chữ cái (begin with the same letter) trong bảng mẫu tự của người Hê-bơ-rơ (of the Hebrew alphabet).
* Chữ cái đầu tiên trong mỗi tám câu đầu của phần một (the first eight lines) đều bắt đầu với mẫu tự א [Aleph] = A; và tám câu tiếp theo của phần hai đều bắt đầu với mẫu tự נ [Beth] = B; và cứ như thế cho đến hết hai mươi tư chữ cái (and so on through all twenty-two letters) và chữ cái cuối cùng là ה [taw] = T.
* Sự sắp xếp theo trật tự nầy nhằm mục đích giúp cho dân sự của Đức Chúa Trời dễ nhớ Thi thiên nầy (help people memorize the psalm).

2/ Bằng cách dùng bảng mẫu tự theo hình thức "thơ chữ đầu" (an acrostic psalm), tác giả có lẽ đã gợi ý rằng "mọi khả năng của ngôn ngữ con người đều bị cạn kiệt khi nói lên sự đầy đủ và trọn vẹn của Đức Chúa Trời".

3/ Tác giả của Thi thiên 119 có một tình yêu sâu sắc (a great love) đến Lời của Đức Chúa Trời; và ông cũng là một người bị bắt bớ (persecuted) bởi vì ông đã vâng lời Đức Chúa Trời (obeyed God) và chống lại tội lỗi (opposed sin). Hầu hết các câu trong Thi Thiên 119 hoặc là:
* Những lời cầu xin sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời (either prays for God's help).
* Những sự xác tín về niềm tin của tác giả (or affirmations of the writer's faith) trong lẽ thật của Đức Chúa Trời (in God's truth) bất chấp những sự khó khăn của ông.

4/ Suy gẫm Thi thiên nầy sẽ khiến cho bạn:
* Yêu mến và quý trọng nhiều hơn lời của Đức Chúa Trời (love and treasure the Word of God more).
* Cũng như sẽ khiến cho bạn tự nguyện vâng theo lời của Đức Chúa Trời nhiều hơn (and obey it more willingly).

5/ Cách tiếp cận của chúng ta (our approach) là nhấn mạnh (emphasize) trong mỗi phần của Thi thiên nầy một chức phận đặc biệt của lời Đức Chúa Trời (one special ministry of the Word) trong đời sống chúng ta.

III/ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (the Word of God).
1/ Thi Thiên 119 công bố về sự vĩ đại của Lời Đức Chúa Trời (the greatness of God's word). Ông đã xử dụng 180 lần của 13 danh hiệu khác nhau (thirteen different names) để bộc lộ về lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời (the significance of God's truth).
(1) Lời Chúa דָּבָר [dabar] (Word).
(2) Luật pháp תּוֹרָה [towrah] (law).
(3) Chứng cớ עֵדוּת [`eduwth] (testimony) hoặc עֵדָה [`edah] (testimonies).
(4) Đường דֶּרֶךְ [derek] (road, way, direction).
(5) Lối נָתִיב [nathiyb] (path).
(6) Giềng mối פִּקּוּדִים [piqquwd] (precept).
(7) Luật lệ חֹק [choq] (statutes); hoặc חֻקָּה [chuqqah] (statute).
(8) Điều răn מִצְוָה [mitsvah] (commandments).
(9) Mạng lịnh מִשְׁפָּט [mishpat] (ordinances).
(10) Lẽ phải טַעַם [ta`am] (judgment, decision, decree).
(11) Sự thành tín אֱמוּנָה ['emuwnah] (faithfulness, firmness, steadiness).
(12) Điều ngay thẳng צֶדֶק [tsedeq] (justice, rightness, righteousness).
(13) Hiến pháp צָוָה [tsavah] (constitute, command, charge, give orders).

2/ Chúng ta sẽ nghiên cứu sâu các danh hiệu trên trong từng bài học cụ thể. Vì mỗi danh hiệu chỉ ra (each name indicates):
(1) Lời Đức Chúa Trời dạy gì (what the Word is).
(2) Chúng ta phải đáp lại như thế nào với lời Chúa (how we should respond to it).

3/ Bởi vì các danh hiệu nầy đều mô tả về Lời của Đức Chúa Trời, cho nên các danh hiệu ấy phải được hiểu là sự đồng nghĩa với nhau (these words to be understood synonymously), rằng không hề có các sự tương phản nào giữa các danh hiệu ấy với nhau (without distinctions among them).

4/ Đức Chúa Giê su cũng đã nói về chính Ngài (speaks of Himself):
(Khải 1:8) "Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Hiện Có, Đã Có, Và Còn Đến, là Đấng Toàn năng, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga".
Dĩ nhiên, An-pha [αλφα] (Alpha) = A; và Ô-mê-ga Ω [ομεγα] (Omega) = O; là các chữ cái "đầu" và chữ cái "cuối" trong bản mẫu tự tiếng Hy-lạp (the Greek alphabet). Tuy nhiên, ý chính ở đây dạy rằng: "Ngài là toàn bộ của sự nhân lành và sự trọn vẹn" (goodness and perfection) mà có thể được thể hiện bởi mỗi mẫu tự của bảng chữ cái đã được sắp xếp theo mọi cách kết hợp có thể có được (arranged in every possible combination).

5/ Mặc dầu, Thi thiên 119 có tất cả 176 câu, và đều cùng đề cập đến một chủ đề "Lời của Đức Chúa Trời". Nhưng, không có hai câu nào thực sự nói lên một vấn đề (the same thing). Tất cả đều có các sắc thái và ý nghĩa khác nhau (there is some different shade of meaning in every one).

6/ Ngoại trừ Thi 119:1-3 và 115, tác giả Thi thiên 119 đã hướng toàn bộ Thi thiên nầy đến Đức Chúa Trời (directs the entire psalm to God), và ông bày tỏ lòng yêu mến sâu sắc của mình đến lời của Đức Chúa Trời (expressing his devotion to God's word).
(1) Tác giả Thi thiên 119 luôn luôn bày tỏ lòng yêu mến lớn (deligh in) hoặc sự cương quyết (determination) vâng phục theo Lời của Đức Chúa Trời.
(2) Trong suốt cả Thi thiên 119, tác giả luôn bày tỏ một lòng tự tin tích cực (positive confidence), không hề có trường hợp nào nói lên sự tuyệt vọng (hopelessness) hay cảm giác bị mất tinh thần (dismay) đối với lời của Đức Chúa Trời.

IV/ TÁC GIẢ THI THIÊN 119 MIÊU TẢ LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ LÀ (pictured the Word of God as):

1/ Châu báu הוֹן [hown] (treasure/ wealth).
(Thi 119:14) "Tôi vui mừng về đường chứng cớ Chúa, Như thể vui mừng về của cải hiếm hiệm".
(Thi 119:72) "Luật pháp của miệng Chúa phán là quí cho tôi Hơn hằng ngàn đồng vàng và bạc".
(Thi 119:11) "Chứng cớ Chúa là cơ nghiệp tôi đến đời đời; Vì ấy là sự mừng rỡ của lòng tôi".
(Thi 119:127) "Nhân đó tôi yêu mến điều răn Chúa hơn vàng, thậm chí hơn vàng ròng".
(Thi 119:162) "Tôi vui vẻ về lời Chúa, Khác nào kẻ tìm được mồi lớn".

2/ Người cố vấn אֱנוֹשׁ ['enowsh] (a counselor).
(Thi 119:24) "Các chứng cớ Chúa là sự hỉ lạc tôi, Tức là những mưu sĩ tôi".

3/ Một bài ca זְמִיר [zamiyr] (a song / psalm).
(Thi 119:54) "Các luật lệ Chúa làm bài hát tôi Tại nhà tôi ở làm khách lạ".

4/ Mật ong דְּבַשׁ [dĕbash] (honey).
(Thi 119:103) "Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao! Thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi!".

5/ Ánh sáng אוֹר ['owr] (light).
(Thi 119:105) "Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, Ánh sáng cho đường lối tôi".
(Thi 119:130) "Sự bày giãi lời Chúa, soi sáng cho, Ban sự thông hiểu cho người thật thà".

6/ Cơ nghiệp נָחַל [nachal] (heritage, possession, acquire, inherit, possess).
(Thi 119:111) "Chứng cớ Chúa là cơ nghiệp tôi đến đời đời; Vì ấy là sự mừng rỡ của lòng tôi".

7/ Hãy suy gẫm các bức tranh nầy (mediate on these pictures), nó sẽ khiến cho bạn yêu mến và trân quí Lời của Đức Chúa Trời nhiều hơn (love and treasure the Word of God more) và sẽ khiến cho bạn tự nguyện vâng lời Chúa nhiều hơn (obey it more willingly).

V/ CÁC TIÊU ĐỀ (headings):

Các tiêu đề của Thi Thiên 119 sau đây chủ yếu dựa trên phần giải nghĩa của của F.W.Grant (the following subject headings are based primarily on F.G.Grant):

1/ Thi 119:1-8: Được phước nhờ làm theo lời của Đức Chúa Trời (the Blessedness of obeying the Word).
2/ Thi 119:9-16: Làm cho tinh sạch nhờ lời Đức Chúa Trời (cleansing by the Word).
3/ Thi 119:17-24: Khả năng suy xét đúng đắn nhờ lời Đức Chúa Trời (discernment by the Word).
4/ Thi 119:25-32: Cảm thấy sự thiếu hụt của bản thân nhờ lời Đức Chúa Trời (sense of personal insufficiency through the word).
5/ Thi 119:33-40: Quyền năng của lời Đức Chúa Trời (the power of the Word).
6/ Thi 119:41-48: Chiến thắng nhờ lời của Đức Chúa Trời (victory through the Word).
7/ Thi 119:49-56: Được an ủi và yên nghỉ nhờ lời Đức Chúa Trời (rest and comfort through the Word).
8/ Thi 119:57-64: Sự bền chí trong lời Đức Chúa Trời (perseverance in the Word).
9/ Thi 119:65-72: Sự quí giá của lời Đức Chúa Trời trong các thời điểm tốt và xấu (the pricelessness of the Word in good and evil times).
10/ Thi 119:73-80: Có được sự sáng suốt nhờ lời Đức Chúa Trời (insights through the Word).
11/ Thi 119:81-88: Người đau khổ được nâng đỡ nhờ lời Đức Chúa Trời (the afflicted one sustained by the Word).
12/ Thi 119:89-96: Tính đời đời của lời Đức Chúa Trời (eternity of the Word).
13/ Thi 119:97-104: Sự khôn ngoan nhờ lời của Đức Chúa Trời (wisdom through the Word).
14/ Thi 119:105-112: Lời Đức Chúa Trời là một ngọn đèn và là ánh sáng cho tất cả mọi hoàn cảnh (the Word a lamp and light for all occasions).
15/ Thi 119:113-120: Người gian ác và lời Đức Chúa Trời (the wicked and the Word).
16/ Thi 119:121-128: Sự phân ly và giải cứu nhờ lời của Đức Chúa Trời (separation and deliverance through the Word).
17/ Thi 119:129-136: Sự vui mừng và sự thông công qua lời của Đức Chúa Trời (joy and communion through the Word).
18/ Thi 119:137-144: Sự sốt sắng về lời Đức Chúa Trời (zeal for the Word).
19/ Thi 119:145-152: Sự từng trải qua lời của Đức Chúa Trời (experience through the Word).
20/ Thi 119:153-160: Sự cứu rỗi qua lời Đức Chúa Trời (Salvation through the Word).
21/ Thi 119:161-168: Sự trọn lành của lời Đức Chúa Trời (perfection of the Word).
22/ Thi 119: 169-176: Cầu nguyện và ngợi khen qua lời của Đức Chúa Trời (Prayer and praise through the Word).