(Thi 109:1-31) "1 Hỡi Đức Chúa Trời mà tôi ngợi khen, xin chớ nín lặng. 2 Vì miệng kẻ ác và miệng kẻ gian lận hả ra nghịch tôi: Chúng nó nói nghịch tôi bằng lưỡi láo xược. 3 Vây phủ tôi bằng lời ghen ghét, Và tranh đấu với tôi vô cớ. 4 Vì tình thương của tôi, chúng nó lại trở cừu địch tôi; Nhưng tôi chỉ chuyên lòng cầu nguyện. 5 Chúng nó lấy dữ trả lành, Lấy ghét báo thương. 6 Hãy đặt một kẻ ác cai trị nó, Cho kẻ cừu địch đứng bên hữu nó. 7 Khi nó bị đoán xét, nguyện nó ra kẻ có tội, Và lời cầu nguyện nó bị kể như tội lỗi. 8 Nguyện số các ngày nó ra ít. Nguyện kẻ khác chiếm lấy chức phận nó đi. 9 Nguyện con cái nó phải mồ côi, Và vợ nó bị góa bụa. 10 Nguyện con cái nó hoang đàng và ăn mày, Phải đi xin ăn xa khỏi nhà hoang của chúng nó. 11 Nguyện chủ nợ tận thủ mọi vật nó có. Kẻ ngoại cướp lấy huê lợi về công lao nó. 12 Nguyện chẳng ai làm ơn cho nó, Không ai có lòng thương xót con mồ côi nó. 13 Nguyện dòng dõi nó bị diệt đi, Tên chúng nó bị xóa mất trong đời kế sau. 14 Nguyện sự gian ác tổ phụ nó bị nhắc lại trước mặt Đức Giê-hô-va; Nguyện tội lỗi mẹ nó không hề bôi bỏ được. 15 Nguyện các tội ác ấy hằng ở trước mặt Đức Giê-hô-va, Để Ngài cất kỷ niệm chúng nó khỏi đất; 16 Bởi vì người không nhớ làm ơn, Song bắt bớ người khốn cùng thiếu thốn, Và kẻ có lòng đau thương, đặng giết đi. 17 Nó ưa sự rủa sả, sự rủa sả bèn lâm vào nó; Cũng không thích chúc phước; phước bèn cách xa nó. 18 Nó cũng mặc mình bằng sự rủa sả khác nào bằng cái áo; Sự rủa sả chun thấm vào thân nó như nước, Vô xương cốt như dầu. 19 Nguyện sự rủa sả vì nó làm như cái áo để đắp mình, Như cái đai để thắt lưng luôn luôn. 20 Đức Giê-hô-va sẽ báo trả như vậy cho kẻ cừu địch tôi, Và cho những kẻ nói hành linh hồn tôi. 21 Nhưng, hỡi Chúa Giê-hô-va, nhân danh Chúa, xin hãy hậu đãi tôi; Vì sự nhân từ Chúa là tốt; xin hãy giải cứu tôi; 22 Vì tôi khốn cùng thiếu thốn, Lòng tôi bị đau thương trong mình tôi. 23 Tôi qua đời như bóng ngã dài, Bị đuổi đây đuổi đó khác nào cào cào. 24 Gối tôi run yếu vì kiêng ăn, Thịt tôi ra ốm, không còn mập nữa. 25 Tôi cũng thành sự sỉ nhục cho chúng nó; Hễ chúng nó thấy tôi bèn lắc đầu. 26 Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi! xin giúp đỡ tôi, Cứu tôi theo sự nhân từ Chúa; 27 Hầu cho người ta biết rằng ấy đây là tay Chúa, Chính Ngài, Đức Giê-hô-va ơi, đã làm điều đó. 28 Chúng nó thì rủa sả, nhưng Chúa lại ban phước. Khi chúng nó dấy lên, ắt sẽ bị hổ thẹn, Còn kẻ tôi tớ Chúa sẽ được vui vẻ. 29 Nguyện kẻ cừu địch tôi phải mặc mình bằng sự sỉ nhục, Bao phủ mình bằng sự hổ thẹn nó khác nào bằng cái áo. 30 Bấy giờ miệng tôi sẽ hết sức cảm tạ Đức Giê-hô-va, Ngợi khen Ngài ở giữa đoàn đông; 31 Vì Ngài đứng bên hữu người thiếu thốn, Đặng giải cứu người khỏi kẻ đoán xét linh hồn người".

DẪN NHẬP.

1/ Thi Thiên 109 là một lời cầu nguyện xin Đức Chúa Trời đoán xét một vụ án về sự vụ khống (a case of false accusation).
(Thi 109:2-3) "2 Vì miệng kẻ ác và miệng kẻ gian lận hả ra nghịch tôi: Chúng nó nói nghịch tôi bằng lưỡi láo xược. 3 Vây phủ tôi bằng lời ghen ghét, Và tranh đấu với tôi vô cớ".

2/ Trong các thi thiên nguyền rủa (Of all the Psalms of imprecation) thì Thi thiên 109 là đứng hàng đầu (first place).
* Không có Thi thiên nào kêu gọi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời một cách cay độc, sâu xa, bao quát và chi tiết đến như thế (with such distiled vitriol or with such comprehensive detail).
* Chúng ta không thể nào không bị kích thích và hấp dẫn bởi thiên tài của Đa vít qua nhiều loại hình phạt khác nhau (the variety of punishments) mà ông đã cầu xin Đức Chúa Trời hãy giáng trên kẻ thù mình như vậy!

I/ KHI CÓ NGƯỜI NÓI LỜI VU KHỐNG VỀ BẠN (lied about you).
* Họ nói với bạn một cách đầy căm thù (spoken hatefully to you).
* Và họ đã lấy oán báo ân (rewarded you evil for good).
* Bạn sẽ nhận được rất nhiều lợi ích nhờ đọc Thi thiên 109 nầy (you would benefit from reading this psalm).

1/ Thi thiên 109 mở đầu với sự hoà nhã không giận dữ (disarming wildness).
* Đa vít cầu xin sự cứu giúp nơi Đức Chúa Trời là Đấng mà ông đang ngợi khen (the God of his praise).
(Thi 109:1) "Hỡi Đức Chúa Trời mà tôi ngợi khen, xin chớ nín lặng".
(Giê 17:14) "Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài chữa tôi thì tôi sẽ được lành; xin Ngài cứu tôi thì tôi sẽ được rỗi: vì Ngài là Đấng mà tôi ngợi khen".

2/ Đa vít đang bị các kẻ thù công kích bằng những lời nói hết sức gian ác để chống đối ông (conducting a vicious verbal assault on him).
* Họ tuôn xối xả mọi lời kết tội dối trá để buộc tội chống lại ông (hurling all manner of lying charges against him).
* Những lời nói ghen ghét nhắm vào ông đến từ tứ phía (words of hatred come zeroing in at him from every direction).
* Điều khiến chuyện nầy càng đặc biệt khó chấp nhận (especially hard to take) đó là những lời công kích ấy hoàn toàn không có một lý do chính đáng gì cả (the attacks are wholly unjustified).
(Thi 109:3) "Vây phủ tôi bằng lời ghen ghét, và tranh đấu với tôi vô cớ".
(Thi 35:7-8) "7 Vì vô cớ chúng nó gài kín lưới cho tôi, Và vô cớ đào một cái hầm cho linh hồn tôi. 8 Nguyện tai họa không ngờ đến hãm áp nó, Ước gì lưới nó gài kín bắt lại nó; Nguyện nó sa vào đó, và bị diệt đi".
(Giăng 15:25) "Dường ấy, để cho ứng nghiệm lời đã chép trong luật pháp họ rằng: Họ ghét ta vô cớ".

3/ Đa vít đã tỏ tình yêu và lòng nhân từ đối với những người tấn công mình, thế nhưng ông nhận được điều gì để đắp lại?
* Cả hàng rào của những điều vu cáo ông (a barrage of false accusations) trong khi ông đang cầu nguyện cho họ (all the while he is praying for them).
* Kẻ thù của Đa vít đã đáp lại lòng nhân từ của ông bằng những lời sỉ nhục, lăng mạ (for every kindness, they repay him with insult); và đáp lại tình yêu của ông bằng sự căm ghét (they reward him with hatred).
(Thi 109:4-5) "4 Vì tình thương của tôi, chúng nó lại trở cừu địch tôi; Nhưng tôi chỉ chuyên lòng cầu nguyện. 5 Chúng nó lấy dữ trả lành, Lấy ghét báo thương".
(Thi 35:12) "Chúng nó lấy dữ trả lành; Linh hồn tôi bị bỏ xuội".
(Thi 38:20) "Còn những kẻ lấy dữ trả lành Cũng là cừu địch tôi, bởi vì tôi theo điều lành".

4/ Khi lòng bạn bị thương tổn (your heart is wounded within).
(Thi 109:22b) "Lòng tôi bị đau thương trong mình tôi".
* Mà không có cách nào để đính chính lại (there is no way to set the record straight).
* Vậy hãy trình dâng điều đó lên Đức Chúa Trời (take it to the Lord) và tỏ cho Ngài biết cảm giác của bạn là thế nào (tell Him how you feel).
(Thi 109:4b) "Nhưng tôi chỉ chuyên lòng cầu nguyện".
(Thi 69:12-13) "12 Những kẻ ngồi nơi cửa thành trò chuyện về tôi; Tôi là đề câu hát của những người uống rượu. 13 Nhưng Đức Giê-hô-va ơi, tôi nhờ dịp tiện Mà cầu nguyện cùng Ngài. Đức Chúa Trời ơn, theo sự thương xót lớn của Chúa, Và theo lẽ thật về sự cứu rỗi của Chúa, xin hãy đáp lại tôi".
(Thi 141:4-5) "4 Xin chớ để lòng tôi hướng về điều gì xấu xa, Đặng làm việc ác với kẻ làm ác; Nguyện tôi không ăn vật ngon của chúng nó. 5 Nguyện người công bình đánh tôi, ấy là ơn; Nguyện người sửa dạy tôi, ấy khác nào dầu trên đầu, Đầu tôi sẽ không từ chối. Vì dẫu trong khi chúng nó làm ác, tôi sẽ cứ cầu nguyện".

5/ Từ đây trở đi, Đa vít đã dùng những lời nguyền rủa kịch liệt và làm chết người (hot and lethal), tuôn ra ào ạt từ linh hồn đã bị thương của ông (shoot out  from his wounded soul).

II/ BẢN GHI CHÉP CÁC LỜI CẦU NGUYỆN RỦA SẢ CỦA VUA ĐA VÍT (King David's imprecatory prayers) _Một bài cầu nguyện nguyền rủa khác là Thi thiên 58_
(1) Đa vít cầu xin Đức Chúa Trời đoán xét người nói xấu ông (to judge the man who lied about him).
(a) Kẻ nói xấu ông cuối cùng sẽ bị bắt và đem ra xét xử (will be caught and brought to trial).
* Người xét xử kẻ thù ông sẽ là một kẻ hung ác (a wicked man will be his accuser).
* Đến cuối phiên toà nguyện phán quyết sẽ là có tội (at the conclusion of the trial let the verdict be "Guilty").
* Và nếu kẻ thù ông có kháng cáo (appeals the sentence), nguyện cho lời thỉnh cầu của hắn sẽ bị kể là xem thường toà án (let his request be counted as contempt of court) và hình phạt sẽ càng nặng hơn.
(Thi 109:6-7) "6 Hãy đặt một kẻ ác cai trị nó, Cho kẻ cừu địch đứng bên hữu nó. 7 Khi nó bị đoán xét, nguyện nó ra kẻ có tội, Và lời cầu nguyện nó bị kể như tội lỗi".
(b) Về đời sống của kẻ thù ông sẽ trở nên thật ngắn (may it be a short one).
(Thi 109:8a) "Nguyện số các ngày nó ra ít".
(Gióp 22:15-16) "15 Ông sẽ giữ theo lối xưa, Mà các kẻ gian ác đã đi sao? Chúng nó bị truất diệt trước kỳ định, Cái nền họ bị dòng nước đánh trôi đi".
(Thi 55:23) "Hỡi Đức Chúa Trời, kẻ ham đổ huyết và người giả ngụy sống chẳng đến được nửa số các ngày định cho mình; Chúa sẽ xô chúng nó xuống hầm diệt vong; còn tôi sẽ tin cậy nơi Chúa".
(c) Và nguyện có người khác chiếm lấy chức vụ (may someone else take his office) hay chiếm lấy địa vị lãnh đạo của hắn (take his place of leadership).
(Thi 109:8b) "Nguyện kẻ khác chiếm lấy chức phận nó đi".
(d) Sự nguyền rủa đặc biệt nầy đã được Phi-e-rơ trích dẫn để chỉ về Giu-đa Ích-ca-ri-ốt (quoted of Judah) và về chức sứ đồ của ông ta (and of his office).
(Công 1:20) "Trong sách Thi Thiên cũng có chép rằng: Nguyền cho chỗ ở nó trở nên hoang loạn, Chớ có ai ở đó; lại rằng: Nguyền cho có một người khác nhận lấy chức nó".
* Điều nầy sẽ giúp chúng ta hiểu được rằng nó không những nói đến Đa vít và kẻ thù của ông (David and his foe), mà còn nói đến Đấng Mê-si-a và kẻ phản Ngài nữa (Messiah and His betrayer).
* Và có lẽ cũng nói đến cả Y-sơ-ên và Anti Christ (Israel and the Anti-Christ) trong một ngày hầu đến nữa.

(2) Đa vít cầu xin Đức Chúa Trời cũng đoán xét các con cháu của người đã nói xấu ông (also to judge the man's children).
(a) Nguyện con của người nói xấu ông phải mồ côi (become fatherless), và vợ hắn trở thành goá bụa (be widowed).
(Thi 109:9) "Nguyện con cái nó phải mồ côi, và vợ nó bị góa bụa".
(Xuất 22:24) "cơn nóng giận ta phừng lên, sẽ lấy gươm giết các ngươi, thì vợ các ngươi sẽ trở nên góa bụa, và con các ngươi sẽ mồ côi".
(Giê 18:21) "Vậy nên, xin Ngài phó con cái họ cho sự đói kém, và chính mình họ cho quyền gươm dao. Nguyền cho vợ họ mất con và trở nên góa bụa, cho chồng bị chết dịch, cho những người trai tráng bị gươm đánh giữa trận mạc".
(b) Nguyện con cháu người nói xấu ông liên tục là những kẻ đi hoang đàng (continually be vagabonds) và hành khất (beggars); bị đuổi ra khỏi căn nhà đã bị đổ nát (evicted from the ruins) mà trước kia vốn là nhà của chúng.
(Thi 109:10) "Nguyện con cái nó hoang đàng và ăn mày, phải đi xin ăn xa khỏi nhà hoang của chúng nó".

(3) Còn về phần gia tài điền sản (his estate).
(a) Nguyện các chủ nợ (creditor) bước vào nhà hắn và tịch thu mọi vật hắn có (seize all that he has).
(Thi 109:11a) "Nguyện chủ nợ tận thủ mọi vật nó có".
(b) Nguyện cho mọi điều mà hắn đã kiếm được sẽ bị người khác lấy chia nhau (be shared by strangers).
(Thi 109:11b) "Kẻ ngoại cướp lấy huê lợi về công lao nó".
(c) Nguyện danh gia đình nầy bị quên lãng (go into oblivion) trước khi có thế hệ kế tiếp.
(Thi 109:12-13) "12 Nguyện chẳng ai làm ơn cho nó, Không ai có lòng thương xót con mồ côi nó. 13 Nguyện dòng dõi nó bị diệt đi, tên chúng nó bị xóa mất trong đời kế sau".

(4) Đa vít cũng cầu xin Đức Chúa Trời đoán xét ngay cả đến các tội của tổ tiên người đã nói xấu ông (the man's ancestors' sins come up before God for judgment).
(a) Nguyện Đức Chúa Trời nhớ đến gian ác của tổ phụ hắn (the iniquity of his fathers).
(Thi 109:14a) "Nguyện sự gian ác tổ phụ nó bị nhắc lại trước mặt Đức Giê-hô-va".
(b) Nguyện tội của mẹ hắn (the sin of his mother) không hề bôi xoá được.
(Thi 109:14b) "Nguyện tội lỗi mẹ nó không hề bôi bỏ được".
(c) Sự kỷ niệm của chúng nó bị cất khỏi đất (the memory of them be cut off).
(Thi 109:15) "Nguyện các tội ác ấy hằng ở trước mặt Đức Giê-hô-va, để Ngài cất kỷ niệm chúng nó khỏi đất".
(Xuất 20:5) "Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời".
(Dân 14:18) "Đức Giê-hô-va vốn chậm nóng giận và đầy ơn; hay xá điều gian ác và tội lỗi; nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt con cháu trải ba bốn đời".
(Giê 32:18) "Ngài tỏ sự thương xót ra cho muôn vàn, báo trả sự gian ác ông cha vào mình con cháu nối sau. Ngài là Đức Chúa Trời lớn, là Đấng toàn năng, danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân".

(5) Đa vít cầu xin Đức Chúa Trời khiến người nói xấu ông gặt những gì mà người ấy đã gieo (reap just what he has sown).
(a) Có luật nhân quả không thể ngăn lại được trong lĩnh vực đạo đức (there is an inexorable law of retribution in the moral realm).
* Hễ gieo gì thì sẽ gặt nấy (whatever a man sows, that is what he reap).
* Chắc chắn không thoát khỏi mùa gặt được (the harvest is inescapable).
* Không hề có chuyện phạm tội mà thoát bị hình phạt (there is no getting away with sin).
(Thi 109:17) "Nó ưa sự rủa sả, sự rủa sả bèn lâm vào nó; Cũng không thích chúc phước; phước bèn cách xa nó".
(b) Ở đây, Đa vít cầu xin luật nhân quả ấy thực hiện trọn tiến trình của nó:
* Kẻ thù của Đa vít ưa thích rủa sả kẻ khác, giờ đây nguyện những lời rủa sả của hắn giáng lên chính hắn (his curses boomerang on himself).
* Kẻ thù của Đa vít không hề muốn người khác hưởng phước lành, giờ đây nguyện phước lành cách xa hắn (let blessings stay far away from him).
* Nguyện sự rủa sả bao vây kẻ thù ông giống như chiếc áo hắn đã mặc, bám vào hắn giống như cái đai mà hắn không bao giờ cởi ra được (cling to him like a girdle he can never take off).
(Thi 109:18-20) "18 Nó cũng mặc mình bằng sự rủa sả khác nào bằng cái áo; Sự rủa sả chun thấm vào thân nó như nước, Vô xương cốt như dầu. 19 nguyện sự rủa sả vì nó làm như cái áo để đắp mình, Như cái đai để thắt lưng luôn luôn. 20 Đức Giê-hô-va sẽ báo trả như vậy cho kẻ cừu địch tôi, Và cho những kẻ nói hành linh hồn tôi".

III/ LỜI CẦU NGUYỆN VÀ NGỢI KHEN.
Đa vít đã kết thúc Thi thiên 109 nầy bằng hai lời cầu nguyện (two prayers) rồi bật lên tiếng ngợi khen (and a burst of praise).

1/ Hai lời cầu nguyện (two prayers).
(Thi 109:) "21 Nhưng, hỡi Chúa Giê-hô-va, nhân danh Chúa, xin hãy hậu đãi tôi; Vì sự nhân từ Chúa là tốt; xin hãy giải cứu tôi; 22 Vì tôi khốn cùng thiếu thốn, Lòng tôi bị đau thương trong mình tôi. 23 Tôi qua đời như bóng ngã dài, Bị đuổi đây đuổi đó khác nào cào cào. 24 Gối tôi run yếu vì kiêng ăn, Thịt tôi ra ốm, không còn mập nữa".
(1) Lời cầu nguyện thứ nhất:
(a) Ông cầu xin được giải cứu khỏi những gian truân (for deliverance from his troubles).
(Thi 109:22a) "Vì tôi khốn cùng thiếu thốn".
(b) Khi Đức Chúa Trời giúp đỡ Đa vít, Chúa bày tỏ sự nhân từ của Chúa là tốt lành (His mercy is good).
(Thi 109:21) "Nhưng, hỡi Chúa Giê-hô-va, nhân danh Chúa, xin hãy hậu đãi tôi; Vì sự nhân từ Chúa là tốt; xin hãy giải cứu tôi".
(c) Đa vít không những nghèo khổ và thiếu thốn (poor and needy), lòng ông còn đau thương trong mình ông (his heart is wounded within him).
(Thi 109:22b) "Lòng tôi bị đau thương trong mình tôi".
(d) Vì kiêng ăn lâu ngày nên đầu gối ông run yếu (his knees are buckling) và thân thể ông chỉ còn da bọc xương (skin and bones).
(Thi 109:24) "Gối tôi run yếu vì kiêng ăn, Thịt tôi ra ốm, không còn mập nữa".
(e) Kẻ thù cười nhạo ông trong tình cảnh thảm thương ấy (laugh at him in his pitiable state).
(Thi 109:25) "Tôi cũng thành sự sỉ nhục cho chúng nó; Hễ chúng nó thấy tôi bèn lắc đầu".
(Thi 22:7) "Hễ kẻ nào thấy tôi đều nhạo cười tôi. Trề môi lắc đầu..."
(Mat 27:39-40) "39 Những kẻ đi ngang qua đó chê cười Ngài, lắc đầu, 40 mà nói rằng: Ngươi là kẻ phá đền thờ và dựng lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự!".
(2) Lời cầu nguyện thứ nhì:
(Thi 109:26-29) "26 Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi! xin giúp đỡ tôi, Cứu tôi theo sự nhân từ Chúa; 27 Hầu cho người ta biết rằng ấy đây là tay Chúa, Chính Ngài, Đức Giê-hô-va ơi, đã làm điều đó. 28 Chúng nó thì rủa sả, nhưng Chúa lại ban phước. Khi chúng nó dấy lên, ắt sẽ bị hổ thẹn, Còn kẻ tôi tớ Chúa sẽ được vui vẻ. 29 Nguyện kẻ cừu địch tôi phải mặc mình bằng sự sỉ nhục, Bao phủ mình bằng sự hổ thẹn nó khác nào bằng cái áo".
(a) Đa vít xin Đức Chúa Trời binh vực trước mặt các kẻ thù (to vindicate him before the foes).
(Thi 109:26) "Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi! xin giúp đỡ tôi, Cứu tôi theo sự nhân từ Chúa".
(b) Khi Đức Chúa Trời giúp đỡ và giải cứu ông, thì những kẻ tấn công ông sẽ biết đây là hành động can thiệp của Đức Chúa Trời (it was an act of divine intervention).
(Thi 109:27) "Hầu cho người ta biết rằng ấy đây là tay Chúa; chính Ngài, Đức Giê-hô-va ơi, đã làm điều đó".
(c) Có gì quan trọng đâu nếu như các kẻ thù đang lúc rủa sả thì Đức Chúa Trời lại ban phước (if they curse, as long as the Lord blesses).
(Thi 109:28) "Chúng nó thì rủa sả, nhưng Chúa lại ban phước. Khi chúng nó dấy lên, ắt sẽ bị hổ thẹn, Còn kẻ tôi tớ Chúa sẽ được vui vẻ".
(d) Kẻ thù sẽ hổ thẹn (be ashamed), nhưng Đa vít sẽ vui mừng (rejoice).
(Thi 109:28-29) "28 Chúng nó thì rủa sả, nhưng Chúa lại ban phước. Khi chúng nó dấy lên, ắt sẽ bị hổ thẹn, Còn kẻ tôi tớ Chúa sẽ được vui vẻ. 29 Nguyện kẻ cừu địch tôi phải mặc mình bằng sự sỉ nhục, Bao phủ mình bằng sự hổ thẹn nó khác nào bằng cái áo".
(II Sa 16:12) "Có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ đoái xem sự hoạn nạn ta, lấy phước trả lại thế cho sự rủa sả mà ta bị ngày nay".

2/ Lời ngợi khen (a praise).
(Thi 109:30-31) "30 Bấy giờ miệng tôi sẽ hết sức cảm tạ Đức Giê-hô-va, Ngợi khen Ngài ở giữa đoàn đông; 31 Vì Ngài đứng bên hữu người thiếu thốn, đặng giải cứu người khỏi kẻ đoán xét linh hồn người".
* Đa vít đã ngợi khen Đức Chúa Trời khi những lời cầu nguyện của ông được Chúa nhậm (the praise he will offer to the Lord when his prayers are answered).
(Thi 109:30a) "Bấy giờ miệng tôi sẽ hết sức cảm tạ Đức Giê-hô-va".
* Đa vít không ngợi khen Đức Chúa Trời cách riêng tư (not be private), mà ông ngợi khen Chúa ở giữa đoàn dân đông (in the midst of the multitude).
(Thi 109:30b-31) "Ngợi khen Ngài ở giữa đoàn đông; 31 Vì Ngài đứng bên hữu người thiếu thốn, đặng giải cứu người khỏi kẻ đoán xét linh hồn người".

KẾT LUẬN.

1/ Khi nào bạn có cảm giác đau đớn vì bị người khác nói xấu. Hãy cho Đức Chúa Trời cơ hội (give the Lord) chữa lành tấm lòng bị thương của bạn (to heal your wounded heart).
(Thi 109:4) "Vì tình thương của tôi, chúng nó lại trở cừu địch tôi; Nhưng tôi chỉ chuyên lòng cầu nguyện".
(Thi 147:4) "Vì tình thương của tôi, chúng nó lại trở cừu địch tôi; Nhưng tôi chỉ chuyên lòng cầu nguyện".

2/ Bất kể Đức Chúa Trời đối xử với kẻ thù của bạn như thế nào (No matter how God deals with your enemies); bạn cũng phải ngợi khen Ngài (be sure you praise Him).
(Thi 109:1a) "Hỡi Đức Chúa Trời mà tôi ngợi khen".
(Thi 109:30a) "Bấy giờ miệng tôi sẽ hết sức cảm tạ Đức Giê-hô-va, Ngợi khen Ngài ở giữa đoàn đông".

3/ Và hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời có lòng nhẫn nhục đối với tội nhân (He is long-suffering with sinner) bao gồm cả bạn! (including you!).
(Ê xê 18:23, 32) "23 Chúa Giê-hô-va phán rằng: Ta há có vui chút nào về sự chết của kẻ dữ sao? há chẳng thà vui về sự nó xây bỏ đường lối mình và nó sống sao?... 32 Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật vậy, ta không vui đâu về sự chết của kẻ phải chết, vậy các ngươi hãy xây lại, mà được sống!".
(Ê xê 33:11) "Hãy nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên?".
(II Phi 3:9) "9 Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn".

4/ Cách tốt nhất để tống khứ một kẻ thù là giao họ cho Đức Chúa Trời (the best way to get rid of an enemy is to leave him or her with the Lord).
(Mat 5:39) "Song ta bảo các ngươi, đừng chống cự kẻ dữ. Trái lại, nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa má bên kia cho họ luôn".
(Rô 12:17-21) "17 Chớ lấy ác trả ác cho ai; phải chăm tìm điều thiện trước mặt mọi người. 18 Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. 19 Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng. 20 Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người. 21 Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác.
(I Tê 5:15) "Hãy giữ, đừng có ai lấy ác báo ác cho kẻ khác; nhưng hãy tìm điều thiện luôn luôn, hoặc trong vòng anh em, hoặc đối với thiên hạ".
(I Phi 3:9) "Đừng lấy ác trả ác, cũng đừng lấy rủa sả trả rủa sả; trái lại phải chúc phước, ấy vì điều đó mà anh em được gọi để hưởng phước lành".