(Thi 108:1-13) "1 Hỡi Đức Chúa Trời, lòng tôi vững chắc; Tôi sẽ hát, phải, linh hồn tôi sẽ hát ngợi khen. 2 Hỡi cầm sắt, hãy tỉnh thức! Chính mình tôi sẽ tỉnh thức thật sớm. 3 Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ cảm tạ Ngài giữa các dân, Hát ngợi khen Ngài trong các nước. 4 Vì sự nhân từ Chúa lớn cao hơn các từng trời, sự chân thật Chúa đến tận các mây. 5 Hỡi Đức Chúa Trời, nguyện Chúa được tôn cao hơn các từng trời; Nguyện sự vinh hiển Chúa trổi cao hơn cả trái đất! 6 Xin hãy lấy tay hữu Chúa mà cứu rỗi, và hãy đáp lời chúng tôi; Hầu cho kẻ yêu dấu của Chúa được giải thoát. 7 Đức Chúa Trời đã phán trong sự thánh Ngài rằng: Ta sẽ hớn hở; Ta sẽ chia Si-chem và đo trũng Su-cốt. 8 Ga-la-át thuộc về ta, Ma-na-se cũng vậy; Ép-ra-im là đồn lũy của đầu ta; Giu-đa là cây phủ việt ta; 9 Mô-áp là cái chậu nơi ta tắm rửa; Ta sáng dép ta trên Ê-đôm; Ta cất tiếng reo mừng về đất Phi-li-tin. 10 Ai sẽ đưa tôi vào thành vững bền? Ai sẽ dẫn tôi đến Ê-đôm? 11 Hỡi Đức Chúa Trời, há chẳng phải Chúa, là Đấng đã bỏ chúng tôi sao? Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa không còn ra trận với đạo binh chúng tôi nữa. 12 Xin Chúa giúp đỡ chúng tôi khỏi sự gian truân; Vì sự giúp đỡ của loài người là hư không. 13 Nhờ Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ làm những việc cả thể; Vì chính Ngài sẽ giày đạp các cừu địch chúng tôi".

DẪN NHẬP.

1/ Thi Thiên108 là một bải Thánh ca được chuyển thể từ Thi thiên 57 và Thi Thiên 60 (adapted from Psalm 57 and Psalm 60).
* Thi thiên 108:1-5 được chuyển thể từ Thi thiên 57:7-11.
* Và Thi thiên 108:6-13 được chuyển thể từ Thi thiên 60:5-12.
* Nội dung Thi thiên 108 chuyển từ sự ngợi khen sang sự cầu nguyện (from praise to prayer) và cuối cùng là một triển vọng tươi sáng (finally to a bright prospect).

2/ Thi Thiên108 là một bải hát của các chiến binh (the song of a warriors).
(1) Đa vít có lòng quyết tâm vững chắc (steadfast in his determination) ngợi khen Đức Chúa Trời vì tình yêu thương và sự thành tín không hề dứt của Ngài (His ceaseless love and faithfulness).
(2) Thờ phượng Đức Chúa Trời là một sự chuẩn bị rất tốt cho chiến trận  (worship is good preparation for warfare) Cả thuộc thể lẫn thuộc linh.
(Thi 108:5) "Xin hãy lấy tay hữu Chúa mà cứu rỗi, và hãy đáp lời chúng tôi; hầu cho kẻ yêu dấu của Chúa được giải thoát".

3/ Trong Thi thiên 108 Đa vít đã nói lên ba sự khẳng định (three affirmations).
* Tôi sẽ ngợi khen (I will praise).
* Tôi sẽ lắng nghe (I will listen).
* Tôi sẽ chiếng thắng (I will conquer).

I/ TÔI SẼ NGỢI KHEN (I will praise) (Thi 108:1-6).
(Thi 108:1-3) "1 Hỡi Đức Chúa Trời, lòng tôi vững chắc; Tôi sẽ hát, phải, linh hồn tôi sẽ hát ngợi khen. 2 Hỡi cầm sắt, hãy tỉnh thức! Chính mình tôi sẽ tỉnh thức thật sớm. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ cảm tạ Ngài giữa các dân, hát ngợi khen Ngài trong các nước".

1/ Hát שִׁיר [shiyr] (sing): Ca, hót. Tạo ra những âm thanh có tính nhạc bằng giọng, đặc biệt với một điệu nhạc (utter musical sounds with the voice, esp. words with a set tune).
(Thi 108:1a) "Hỡi Đức Chúa Trời, lòng tôi vững chắc; Tôi sẽ hát..."
(Xuất 15:1) "Đoạn, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va, rằng: Tôi ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm. Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa".
(Xuất 15:21) "Mi-ri-am đáp lại rằng: Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm; Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa".
(I Sa 18:6-7) "6 Khi Đa-vít đã giết được người Phi-li-tin, trở về cùng đạo binh, thì những người nữ của các thành Y-sơ-ra-ên đi ra đón Sau-lơ, hát múa, đánh trống cơm, gõ nhịp, và reo tiếng vui mừng. 7 Những người múa đối đáp nhau rằng: Sau-lơ giết hàng ngàn, Còn Đa-vít giết hàng vạn!".
(Gióp 36:24) "Hãy nhớ ngợi khen các công việc Chúa, Mà loài người thường có ca tụng".
(Thi 18:49) "Vì vậy, hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ ngợi khen Ngài giữa các dân, Và ca tụng danh của Ngài".
(Thi 96:1) "Hãy hát một bài ca mới cho Đức Giê-hô-va; Hỡi cả trái đất, khá hát xướng cho Đức Giê-hô-va".
(Mác 14:26) "Khi đã hát thơ thánh rồi, Chúa và môn đồ đi ra đặng lên núi ô-li-ve".
(Khải 5:9) "Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước".

2/ Ngợi khen זָמַר [zamar]
(Thi 108: 1) "linh hồn tôi sẽ hát ngợi khen...
(Thi 108:3) "Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ cảm tạ Ngài giữa các dân, hát ngợi khen Ngài trong các nước".
(1) Ngợi khen זָמַר [zamar] có các nghĩa sau:
(a) Khen ngợi hoặc tán dương (praise or extol). Trong La tinh "laus laudis" có nghĩa là ngợi khen (praise).
(b) Hát Thi thiên (sing psalms).
(c) Hoà nhạc (to play a musical instrument).
(2) Ngợi khen זָמַר [zamar]: Là biểu lộ sự đồng tình hoặc thán phục cách nhiệt thành (express warm approval or admiration of) bằng bài hát tán dương.
(Thi 7:17) "Tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va y theo sự công bình Ngài, và ca tụng danh Đức Giê-hô-va là Đấng Chí cao".
(Thi 9:2,11) "2 Hỡi Đấng chí cao, tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài, và ca tụng danh của Ngài... 11 Khá hát ngợi khen Đức Giê-hô-va, là Đấng ngự tại Si-ôn; hãy báo cáo giữa các dân công việc tối cao của Ngài".
(Thi 18:49) "Vì vậy, hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ ngợi khen Ngài giữa các dân, và ca tụng danh của Ngài".

3/ Một tấm lòng kiên định (a steadfast heart) là một tấm lòng khen ngợi (a singing heart). Bởi vì sự tin cậy Đức Chúa Trời đem lại cho bạn những điều để ca ngợi (confidence in God gives you something to sing).
(1) Đa vít có sự quyết tâm (steadfast in his determination) ngợi khen Đức Chúa Trời.
(Thi 108:1) "Hỡi Đức Chúa Trời, lòng tôi vững chắc; Tôi sẽ hát, phải, linh hồn tôi sẽ hát ngợi khen".
(Thi 112:7) "Người không sợ cái tin hung; lòng người vững bền, tin cậy nơi Đức Giê-hô-va".
(2) Đa vít đã thức dậy thật sớm để ca ngợi Đức Chúa Trời.
(Thi 108:2-3) "2 Hỡi cầm sắt, hãy tỉnh thức! Chính mình tôi sẽ tỉnh thức thật sớm. 3 Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ cảm tạ Ngài giữa các dân, Hát ngợi khen Ngài trong các nước".
(3) Dầu bên ngoài trời vẫn còn tối, Đa vít đã kêu gọi linh hồn mình hãy tỉnh thức và ông cầm đờn cầm cùng đờn sắt (his lute and harp) để chào đón bình minh (to greet the dawn) với những bài ca của sự cảm tạ (with songs of thanksgiving). Vâng, Đa vít đã bắt đầu một ngày mới với sự ngợi khen! (start the day with praise).
(Thi 108:2) "Hỡi cầm sắt, hãy tỉnh thức! Chính mình tôi sẽ tỉnh thức thật sớm".
(4) Đa vít đã cho chúng ta biết lý do ông ngợi khen Đức Chúa Trời là vì:
(a) Tình yêu và sự thành tín không dứt của Đức Chúa Trời (His ceaseless love and faithfulness).
(b) Sự nhân từ của Đức Chúa Trời xét về tính bao la còn cao hơn các từng trời (His mercy towers above the heavens).
(Thi 108:4a) "Vì sự nhân từ Chúa lớn cao hơn các từng trời".
(Dân 14:18) "Đức Giê-hô-va vốn chậm nóng giận và đầy ơn; hay xá điều gian ác và tội lỗi; nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt con cháu trải ba bốn đời".
(Thi 106:45) "Nhớ lại vì họ giao ước mình, Và thương xót họ tùy sự nhân từ dư dật của Ngài".
(c) Và sự chân thật của Ngài cao hơn  các tầng mây (His truth is sky-high).
(Thi 108:4b) "Vì sự chân thật Chúa đến tận các mây".
(Xuất 34:6) "Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực".
(Thi 36:5) "Hỡi Đức Giê-hô-va, sự nhân từ Ngài ở trên các từng trời; Sự thành tín Ngài đến tận các mây".
(d) Do đó, sự ngợi khen Đức Chúa Trời phải tương xứng với sự vĩ đại của Ngài (correspond to His greatness).
(Thi 108:5) "Hỡi Đức Chúa Trời, nguyện Chúa được tôn cao hơn các từng trời; Nguyện sự vinh hiển Chúa trổi cao hơn cả trái đất!".
(Thi 8:1) "Hỡi Đức Giê-hô-va là Chúa chúng tôi, Danh Chúa được sang cả trên khắp trái đất biết bao; Sự oai nghi Chúa hiện ra trên các từng trời!".
(Thi 57:5) "Hỡi Đức Chúa Trời, nguyện Chúa được tôn cao hơn các từng trời; Nguyện sự vinh hiển Chúa trổi cao hơn cả trái đất!".

II/ TÔI SẼ LẮNG NGHE (I will listen) (Thi 108:7-9).
(Thi. 108:7-9) "7 Đức Chúa Trời đã phán trong sự thánh Ngài rằng: Ta sẽ hớn hở; Ta sẽ chia Si-chem và đo trũng Su-cốt. 8 Ga-la-át thuộc về ta, Ma-na-se cũng vậy; Ép-ra-im là đồn lũy của đầu ta; Giu-đa là cây phủ việt ta; 9 Mô-áp là cái chậu nơi ta tắm rửa; Ta sáng dép ta trên Ê-đôm; Ta cất tiếng reo mừng về đất Phi-li-tin. 10 Ai sẽ đưa tôi vào thành vững bền? Ai sẽ dẫn tôi đến Ê-đôm?".

1/ Đức Chúa Trời đã lắng nghe tiếng của Đa vít (God heard the voice of David), và rồi Đa vít lắng nghe tiếng của Đức Chúa Trời (David listened to the voice of God).
(Thi 108:7a) "Đức Chúa Trời đã phán trong sự thánh Ngài rằng: Ta sẽ hớn hở"

2/ Đức Chúa Trời khẳng định quyền tể trị tối thượng của Ngài trên dân Y sơ ra ên và cả trên dân ngoại nữa.
(1) Y sơ ra ên:
(Thi 108:8) "Ta sẽ chia Si-chem và đo trũng Su-cốt. 8 Ga-la-át thuộc về ta, Ma-na-se cũng vậy; Ép-ra-im là đồn lũy của đầu ta; Giu-đa là cây phủ việt ta"
* Lãnh địa Si chem là nơi có giếng Gia cốp.
* Trũng Su cốt là nơi Gia cốp dựng các lều cho bầy súc vật (Sáng 33:17).
* Cao nguyên Ga la át với những đồng cỏ và các loại thuốc chữa bịnh.
* Ma na se lãnh thổ nằm ở cả hai bờ Giô đanh.
* Ép ra im dẫn đầu các chi phái phòng thủ vương quốc.
* Giu đa là cây phủ việt của Ngài
(Sáng 49:10) "Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, Kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó, Cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới, Và các dân vâng phục Đấng đó".
(Thi 78:68) "Bèn chọn chi phái Giu-đa, Là núi Si-ôn mà Ngài yêu mến".
(2) Ba quốc gia ngoại bang được nhắc tên ở đây: Mô áp, Ê đôm và Phi li tin là đại diện cho lãnh thổ ngoại quốc và sau nầy được đưa vào trong vương quốc của Ngài.
(Thi 108:9) "Mô-áp là cái chậu nơi ta tắm rửa; Ta sáng dép ta trên Ê-đôm; Ta cất tiếng reo mừng về đất Phi-li-tin".
(a) Mô áp sẽ là chậu tắm rửa của Ngài (Moab will be His washpot): Hình ảnh diễn tả sự thỏa nguyện (contempt) và quyền kiểm soát (control).
(Sáng 19:37) "Nàng lớn sanh được một con trai, đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ của dân Mô-áp đến bây giờ".
(b) Ê đôm sẽ sáng dép Ngài (He will cast His shoe... over Edom): Hình ảnh ám chỉ quyền sở hữu (ownership), chỉ đến thái độ quỵ lụy của họ (servitude), và sự nhạo báng chê cười (scorn).
(II Sam 8:13-14) "13 Sau khi thắng dân Sy-ri trở về, Đa-vít lại nổi danh tiếng, vì đánh giết một vạn tám ngàn dân Ê-đôm trong trũng muối. 14 Người lập đồn trong khắp xứ Ê-đôm, và cả xứ Ê-đôm phải phục Đa-vít. Như vậy, Đức Giê-hô-va khiến cho Đa-vít được thắng khắp nơi nào người đi đến".
(c) Phi li tin sẽ bị chà nát (Philistia will be crushed): Trong khi cả Mô áp và Ê đôm sẽ là các chua hầu và sẽ nộp thuế cho Y sơ ra ên, thì Phi li tin sẽ bị chà nát tức là không còn tiếng reo mừng nơi đất Phi li tin.
(II Sam 8:1) "Sau điều đó, Đa-vít đánh bại dân Phi-li-tin, bắt phục chúng nó, và cất quyền kinh đô khỏi chúng nó".

3/ Tiếng phán của Đức Chúa Trời là một lời bảo đảm (a word of assurance) cho nhà vua khi ông đi ra mặt trận. Đây là một lời khẳng định mà Đức Chúa Trời nói với Đa vít:
* Tất cả mọi quốc gia đều thuộc về Ta (all nations are mine).
* Và ta có thể hành động với các quốc gia ấy điều mà Ta đẹp lòng (and I can do with them as I please).
(Thi 108:13) "Nhờ Đức Chúa Trời, chúng tôi sẽ làm những việc cả thể; Vì chính Ngài sẽ giày đạp các cừu địch chúng tôi".


III/ TÔI SẼ CHIẾN THẮNG (I will conquer) (Thi 108:10-13).
(Thi 108:13) "Nhờ Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ làm những việc cả thể; vì chính Ngài sẽ giày đạp các cừu địch chúng tôi".

1/ Cả thể חַיִל [chayil] có các nghĩa sau đây:
* Tình trạng khỏe mạnh (the state of being strong).
* Sức mạnh to lớn thuộc về thân thể hoặc tinh thần (great bodily or mental strength).
* Khả năng hoặc quyền lực (capacity or power).
* Hiệu xuất, trạng thái hay phẩm chất có năng lực (the state or quality of being efficiency).
* Khả năng làm hoặc hành động (the ability to do or act).
(1) Hy lạp ένδύναμις [endunamis] do động từ ἐνδυναμόω [endynamoō]. Gồm:
(a) Tiền tố (pref.) ἐν [en]: Tăng thêm (put into or on).
(b) Động từ (verb) δυναμόω [dynamoō]: Khả năng (to be able); Có khả năng, năng lực hoặc sức mạnh (to have power).
(c) Động từ ἐνδυναμόω [endynamoō] có các nghĩa sau:
* Làm cho ai/gì trở nên khỏe hơn, mạnh hơn, kiên cố hơn (make or become stronger).
* Trao quyền hành hợp pháp cho ai để hành động (authorise, license).
* Ban cho khả năng hay năng lực (give power to; make able).
* Thêm sức (increase in strength).
(2) Latin "efficientia": Tính hiệu quả, có năng lực, có năng xuất (efficiency). Gồm:
(a) Tiền tố (pref) "ef": Mang lại một tình trạng (bring into a state).
(b) Động từ "facere": Thành công trong việc, hoàn thành tốt, đạt kết quả, hoàn tất (accomplish).
(c) Efficientia:
* Trạng thái hay phẩm chất có hiệu quả (the state or quality of being efficient)
* Có khả năng làm việc tốt (capable).
* Mang lại kết quả hài lòng mà không lãng phí thời gian, năng lượng (acting effeciently).

2/ Lời hứa chiến thắng Ê đôm khiến Đa vít không nghỉ ngơi để thấy được sự ứng nghiệm của nó.
* Sê la (Sela) hay còn gọi là Petra (bản Việt ngữ gọi là thành bền vững) nổi tiếng (renowned) về sự bất khả xâm phạm (inaccessible) và vô phương triệt hạ (impregnable).
* Đa vít mong mỏi có ai dẫn mình đến Ê đôm để có thể reo vang chiến thắng khải hoàng trên thành ấy.
(Thi 107:10) "Ai sẽ đưa tôi vào thành vững bền? Ai sẽ dẫn tôi đến Ê-đôm?
* Nhưng, Đức Chúa Trời đã ẩn mặt khỏi Y sơ ra ên. Không còn có sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, và vì thế Y sơ ra ên đã bị thất bại.
(Thi 108:11) "Hỡi Đức Chúa Trời, há chẳng phải Chúa, là Đấng đã bỏ chúng tôi sao? Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa không còn ra trận với đạo binh chúng tôi nữa".

3/ Không có sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời thì:
* Tình hình trở nên tuyệt vọng, không còn ai khác có thể cứu giúp gì được.
* Đa vít đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời toàn năng hãy binh vực duyên cớ của Y sơ ra ên một lần nữa bằng cách cứu giúp họ ngoài trận địa.
(Thi 108:12) "Xin Chúa giúp đỡ chúng tôi khỏi sự gian truân; Vì sự giúp đỡ của loài người là hư không".

4/ Ngay khi rời khỏi chỗ cầu nguyện, Đa vít đã hát lên bài hát đắc thắng khải hoàng. Vì:
* Chính Đức Chúa Trời là Đấng sẽ chà nát sự chống đối; và:
* Ban sự chiến thắng cho những kẻ yêu mến Ngài.
* Đây là niềm tin quyết sanh bởi đức tin.
(Thi 108:13)"Nhờ Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ làm những việc cả thể; Vì chính Ngài sẽ giày đạp các cừu địch chúng tôi".

5/ Đức Chúa Trời dẫn chúng tôi vào chiến trận (God leads us into the battle); giúp đỡ chúng tôi chiếm được các đồn lũy vững chắc của kẻ thù (helps us capture the enemy's strongholds); ban cho chúng tôi sự chiến thắng (gives us the victory).
(Thi 44:5) "Nhờ Chúa, chúng tôi sẽ xô đổ cừu địch chúng tôi; Nhân danh Chúa, chúng tôi giày đạp những kẻ dấy nghịch cùng chúng tôi".

6/ Các lời mà Đa vít đã viết cũng đã được Sứ đồ Phao lô khẳng định trong thư tín gửi cho các tín hữu tại thành Phi líp.
(Phil 4:13) "Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi".

7/ Điều nầy đã đúng với Đa vít cũng như Phao lô, cũng sẽ trở nên hiện thực đối với bạn ngày hôm nay (It is true for them, and it is true for you today).

KẾT LUẬN.

I/ Cũng giống như Thi thiên 107, nội dung của Thi thiên 108 đề cập đến ba chủ đề chính:
(1) Quyền tối cao của Đức Chúa Trời trên thế giới được tạo dựng (God's sovereignty over the created world).
(2) Dân sự của Đức Chúa Trời tán dương Ngài (God's people exalting Him).
(3) Đức Chúa Trời giải cứu dân sự Ngài (God's deliverance of His people).

II/ Đa vít hoàn toàn tin cậy nơi sự giải cứu của Đức Chúa Trời (boldly trust God for deliverance):
1/ Cho dù Đức Chúa Trời đã loại bỏ dân sự của Ngài (even through God has rejected His people).
(Thi 108:11-13) "11 Hỡi Đức Chúa Trời, há chẳng phải Chúa, là Đấng đã bỏ chúng tôi sao? Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa không còn ra trận với đạo binh chúng tôi nữa. 12 Xin Chúa giúp đỡ chúng tôi khỏi sự gian truân; Vì sự giúp đỡ của loài người là hư không. 13 Nhờ Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ làm những việc cả thể; Vì chính Ngài sẽ giày đạp các cừu địch chúng tôi".

2/ Do đó, ông đã kêu cầu Đức Chúa Trời (he calls out to God).
(Thi 108:6) "Xin hãy lấy tay hữu Chúa mà cứu rỗi, và hãy đáp lời chúng tôi; hầu cho kẻ yêu dấu của Chúa được giải thoát".

3/ Đa vít nghe được sự bảo đảm hoàn toàn của Đức Chúa Trời (God's full assurance) rằng chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ giải cứu họ (He will enact His deliverance soon).
(Thi 108:7-10) "7 Đức Chúa Trời đã phán trong sự thánh Ngài rằng: Ta sẽ hớn hở; Ta sẽ chia Si-chem và đo trũng Su-cốt. 8 Ga-la-át thuộc về ta, Ma-na-se cũng vậy; Ép-ra-im là đồn lũy của đầu ta; Giu-đa là cây phủ việt ta; 9 Mô-áp là cái chậu nơi ta tắm rửa; Ta sáng dép ta trên Ê-đôm; Ta cất tiếng reo mừng về đất Phi-li-tin. 10 Ai sẽ đưa tôi vào thành vững bền? Ai sẽ dẫn tôi đến Ê-đôm?".

4/ Vì thế, Đa vít đã cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời.
(Thi 108:1-3) "1 Hỡi Đức Chúa Trời, lòng tôi vững chắc; Tôi sẽ hát, phải, linh hồn tôi sẽ hát ngợi khen. 2 Hỡi cầm sắt, hãy tỉnh thức! Chính mình tôi sẽ tỉnh thức thật sớm. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ cảm tạ Ngài giữa các dân, hát ngợi khen Ngài trong các nước".