(Thi Thiên 10:1-43) "1 Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời. 2 Các người Đức Giê-hô-va đã chuộc khỏi tay kẻ hà hiếp hãy nói điều đó, 3 Tức là các người Ngài đã hiệp lại từ các xứ; Từ phương đông, phương tây, phương bắc, phương nam. 4 Họ lưu lạc nơi đồng vắng, trong con đường hiu quạnh, Không tìm thành ở được; 5 Họ bị đói khát, Linh hồn bèn nao sờn trong mình họ. 6 Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan, 7 Dẫn họ theo đường ngay thẳng, Đặng đi đến một thành ở được. 8 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 9 Vì Ngài làm cho lòng khao khát được thỏa thích, Khiến cho hồn đói được đầy dẫy vật tốt. 10 Những kẻ ở trong tối tăm và bóng sự chết, Bị khốn khổ và xích sắt bắt buộc, 11 Bởi vì đã bội nghịch lời Đức Chúa Trời, Và khinh dể sự khuyên dạy của Đấng Chí cao. 12 Nhân đó Ngài lấy sự lao khổ hạ lòng họ xuống; Họ vấp ngã không ai giúp đỡ. 13 Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan, 14 Rút họ khỏi sự tối tăm và bóng sự chết, Cũng bẻ gãy xiềng của họ. 15 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 16 Vì Ngài đã phá cửa đồng, Và gãy các song sắt. 17 Kẻ ngu dại bị khốn khổ Vì sự vi phạm và sự gian ác mình; 18 Lòng chúng nó gớm ghê các thứ đồ ăn; Họ đến gần cửa sự chết. 19 Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan. 20 Ngài ra lịnh chữa họ lành, Rút họ khỏi cái huyệt. 21 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 22 Nguyện chúng dâng của lễ thù ân, Lấy bài hát vui mừng mà thuật các công việc Ngài. 23 Có người đi xuống tàu trong biển, Và làm việc nơi nước cả; 24 Kẻ ấy thấy công việc Đức Giê-hô-va, Xem phép lạ Ngài trong nước sâu. 25 Ngài biểu, bèn có trận gió bão, Nổi các lượn sóng lên. 26 Đưa cao đến các từng trời, rồi hụp xuống tới vực sâu: Lòng họ tiêu tan vì khốn khổ. 27 Họ choáng váng xiêu tó như một người say, Sự khôn ngoan họ đều mất hết. 28 Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan. 29 Ngài ngừng bão-tố, đổi nó ra bình tịnh, Và sóng êm lặng. 30 Họ bèn vui mừng vì sóng êm lặng; Chúa dẫn họ vào bến họ ước ao. 31 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 32 Người ta cũng hãy tôn cao Ngài trong hội dân sự, Và ngợi khen, Ngài tại nơi hiệp tập các trưởng lão. 33 Ngài đổi sông ra đồng vắng, Suối nước thành đất khô, 34 Và đất màu mỡ ra đất mặn, Vì cớ sự gian ác của dân ở tại đó. 35 Ngài biến đồng vắng thành ao nước, Đất khô ra những suối nước; 36 Ngài làm cho những kẻ đói được ở tại đó, Họ xây lập thành đặng ở. 37 Họ gieo ruộng và trồng nho, Ruộng và nho sanh bông trái. 38 Đức Chúa Trời ban phước cho họ đến đỗi họ sanh sản nhiều thêm; Ngài không để cho súc vật họ bị hao hớt. 39 Họ lại bị hạ số và phải cực lòng Vì sự hà hiếp, sự gian nan, và sự buồn rầu. 40 Ngài đổ sự nhuốc nhơ trên vua chúa, Khiến họ phải lưu lạc trong nơi vắng vẻ không đường. 41 Nhưng Ngài vớt kẻ thiếu thốn khỏi hoạn nạn, Làm cho người ấy được gia quyến đông như bầy chiên. 42 Các người ngay thẳng sẽ thấy điều ấy, và vui vẻ, Còn các kẻ ác đều phải ngậm miệng lại. 43 Phàm kẻ nào khôn ngoan sẽ chú ý về điều nầy, Và suy gẫm sự nhân từ của Đức Giê-hô-va".

DẪN NHẬP.

1/ Thi thiên 107 mở đầu cho quyển năm (book 5) của sách Thi thiên, công bố Đức Chúa Trời đáp lại tiếng kêu la đầy tuyệt vọng của Y sơ ra ên (Israel's desperate cry).

2/ Thi thiên 107 là một lời khích lệ (an exhortation) hãy ngợi khen Đức Chúa Trời vì tình yêu đời đời của Ngài trong việc Ngài lắng tai nghe những lời cầu nguyện của những người ở trong nghịch cảnh (the prayers of those in need) và cứu giúp họ (and saves them).

3/ Thi thiên 107 được sáng tác để hát trong các buổi lễ thuộc về tôn giáo hằng năm của Y sơ ra ên (for liturgical use at one of Israel's annual religious festivals).

4/ Nội dung của Thi thiên 107: Chia làm ba phần.
(1) Phần một (Thi 107:1-32): Miêu tả bốn hành động khác nhau mà Đức Chúa Trời đã giải cứu dân sự của Ngài.
Trong mỗi hành động trong phân đoạn nầy đều bao gồm:
* Một lời cầu xin sự cứu giúp (a cry for help).
* Và một điệp khúc (a refrain) thôi thúc những người được Đức Chúa Trời giải cứu hãy cảm tạ Ngài.
(2) Phần hai (Thi 107:33-42): Bày tỏ sự kiểm soát của Đức Chúa Trời trên tất cả mọi tạo vật (God's control over creation) và cách nào Ngài giúp đỡ những người bị áp bức (how He helps the downtrodden).
(3) Phần ba (Thi 107:43): Lời kết luận, kêu gọi hãy cảm tạ Đức Chúa Trời.

5/ Động từ được Thi Thiên 107 lập lại nhiều lần trong điệp khúc là: "hãy ngợi khen Đức Chúa Trời".
(1) Ngợi khen יָדָה [yadah] có các nghĩa sau:
(a) Dâng lên những lời cảm tạ (give thanks): Bày tỏ sự biết ơn, hoặc lòng cảm ơn (express gratitude to).
(b) Khen ngợi hoặc tán dương (praise or extol). Trong La tinh "laus laudis" có nghĩa là: Ngợi khen (praise).
(c) Biểu lộ một sự đồng tình hoặc thán phục cách nhiệt thành (express warm approval or admiration of) bằng những bài hát tán dương.
(d) Công bố danh Đức Chúa Trời ra (confess the name of God).
(e) Kính trọng sâu sắc hoặc tôn thờ (to revere or worship).

6/ Trong Thi Thiên nầy có bốn bức tranh về lòng nhân từ của Đức Chúa Trời hướng về các tội nhân (God's mercy toward sinners) và cách mà họ đáp lại lòng nhân từ của Ngài (how they responded).

I/ NHỮNG NGƯỜI ĐI LƯU LẠC (Travelers) (Thi 107:4-9).
(Thi 107:4-5) "4Họ lưu lạc nơi đồng vắng, trong con đường hiu quạnh, không tìm thành ở được; 5 họ bị đói khát, linh hồn bèn nao sờn trong mình họ".
(Thi 107:40) "Ngài đổ sự nhuốc nhơ trên vua chúa, khiến họ phải lưu lạc trong nơi vắng vẻ không đường".

1/ Lưu lạc תָּעָה [ta`ah]. Động từ תָּעָה [ta`ah] có rất nhiều nghĩa:
(1) Phạm phải sai lầm (be mistaken); bị sai lầm (incorrect); làm sai trật (do wrong); phạm tội (sin).
(2) Đi chệch khỏi con đường đúng (go astray); đi vào sự lầm lạc tội lỗi (go into error or sin); rời khỏi con đường đúng (go out of the right way).
(3) Đi lạc đường (stray from the path); đi quanh quẩn ở một vùng cách vô định (go about from place to place aimlessly).

2/ Hình ảnh nầy rõ ràng ám chỉ đến sự lưu lạc bốn mươi năm trong đồng vắng hoang vu ảm đạm của dân Y sơ ra ên.
(Giô suê 5:6) "Vì dân Y-sơ-ra-ên đã đi trong đồng vắng bốn mươi năm cho đến chừng cả dân sự đã bị chết hết, tức là những chiến sĩ đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô, mà không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va có thề cùng chúng rằng sẽ chẳng cho họ thấy xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề cùng tổ phụ họ ban cho chúng ta, tức là xứ đượm sữa và mật".
(1) Dân sự đã bị lưu lạc (the people were lost): Họ đói, họ khát, họ ngã lòng và sầu thảm.
(2) Rồi họ đã kêu van cùng Đức Chúa Trời (then they cried out to the Lord).
(3) Đức Chúa Trời đã dẫn họ vào Ca na an (The Lord led them into Canaan).
(4) Cuối cùng, họ tìm được một thành phố mà tại đó họ có thể cảm thấy đây là nhà cho mình (they found a city where they could feel at home at last).

3/ Những người lưu lạc trong sa mạc không có thức ăn và nước uống là một kinh nghiệm khủng khiếp (a frightful experience). Đức Chúa Trời không chỉ cứu họ mà còn dẫn họ đến một thành an toàn để ở.
(Thi 107:7) "Dẫn họ theo đường ngay thẳng, đặng đi đến một thành ở được".

4/ Y sơ ra ên đáng phải tạ ơn Đức Chúa Trời về tình yêu bất tuyệt của Ngài, và về sự chăm sóc lạ lùng mà Ngài đã ban cho dân sự Ngài.
* Tại Ca na an, Đức Chúa Trời đã "làm cho lòng khao khát được thỏa thích, khiến cho hồn đói được đầy dẫy vật tốt".
* Thế nhưng dân sự Đức Chúa Trời không có để thì giờ cảm ơn Ngài (take time to thank Him).
(Thi 107:8-9) "8 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 9 Vì Ngài làm cho lòng khao khát được thỏa thích, khiến cho hồn đói được đầy dẫy vật tốt".

II/ NHỮNG NGƯỜI BỊ TÙ ĐÀY (Prisoners) (Thi 107:10-16).
(Thi 107:10) "Những kẻ ở trong tối tăm và bóng sự chết, bị khốn khổ và xích sắt bắt buộc".

1/ Bắt buộc אָסִיר ['aciyr]. Động từ "bắt buộc" có các nghĩa sau:
(1) Bị giam giữ trong nhà tù (a person kept in prison).
(2) Bị bắt làm phu tù (captive).
(3) Làm nô lệ (slave / bondsman).

2/ Hình ảnh nầy rõ ràng có liên quan đến thời gian bảy mươi năm dân Y sơ ra ên bị làm phu tù tại Ba by lôn (concerns the Babylon captivity).
* Ba by lôn giống như ngục tối ảm đạm (a dark, gloomy dungeon).
* Dân Y sơ ra ên cảm thấy mình giống như những tù nhân đang lãnh án tù khổ sai và bị xích xiềng (chained prisoners condemned to penal servitude).
(1) Họ bị tù vì cớ:
* Đã nổi loạn chống nghịch lại với lời của Đức Chúa Trời (rebelled against the Words of God).
* Và đã nổi loạn chống lại ý muốn của Ngài (rebelled against God's will).
(Thi 107: 11) "Bởi vì đã bội nghịch lời Đức Chúa Trời, và khinh dể sự khuyên dạy của Đấng Chí cao".
(2) Họ bị chèn ép và bị đánh đập bởi lao khổ (scrushed and beaten by hard labor). Họ đã ngã xuống dưới gánh nặng (they fell down under the load), và không ai đứng ra bênh vực họ cả.
(Thi 107:12) "Nhân đó Ngài lấy sự lao khổ hạ lòng họ xuống; họ vấp ngã không ai giúp đỡ".
(3) Nhưng khi họ đã kêu cầu cùng Đức Chúa Trời (cried out to God), thì:
* Ngài đã nghe lời khẩn cầu của họ (heard them).
* Và giải cứu họ (set them free).
(Thi 107: 13-14) "13 Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan, 14 Rút họ khỏi sự tối tăm và bóng sự chết, Cũng bẻ gãy xiềng của họ".
(Thi 102:20) "20 Đặng nghe tiếng rên siếc của kẻ bị tù, Và giải phóng cho người bị định phải chết; 21 Hầu cho người ta truyền ra danh Đức Giê-hô-va trong Si-ôn, Và ngợi khen Ngài tại Giê-ru-sa-lem".
(Ê sai 45:2) "Ta sẽ đi trước mặt ngươi, ban bằng các đường gập ghềnh; phá vỡ các cửa bằng đồng, bẻ gãy then gài bằng sắt".

3/ Thế nhưng họ không có để thì giờ để cảm ơn Đức Chúa Trời (take time to thank Him).
(Thi 107:15-16) "15 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 16 Vì Ngài đã phá cửa đồng, Và gãy các song sắt".

III/ NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ (Sufferers) (Thi 107:17-22).
(Thi 107:17-18) "17 Kẻ ngu dại bị khốn khổ vì sự vi phạm và sự gian ác mình.18 Lòng chúng nó gớm ghê các thứ đồ ăn; họ đến gần cửa sự chết".

1/ Chúng ta đang đi từ nhà tù (prison) đến bịnh viện (hospital), tại đó người ta đang chết bởi vì sự ngu dại trong lối sống của họ (their foolish way of life).

2/ Khốn khổ עָנָה [`anah]. Động từ "khốn khổ" có các nghĩa sau:
(1) Bị đau đớn, buồn phiền, khổ sở (be aflicted); sự đau đớn về thể xác hoặc tinh thần (bodily or mental suffering).
(2) Bị đàn áp, bị áp bức (be oppressed). Bị đối xử một cách ác nghiệt hoặc độc ác (harsh or cruel treatment).
(3) Bị buồn chán, ngã lòng, thất vọng (to be depressed). Bị chán nản hoặc bất hạnh (dispirited or miserable).
(4) Bị chán nản, buồn rầu (be downcast / dejected).

3/ Nhiều nhà giải kinh cho rằng hình ảnh người "khốn khổ" nầy đề cập đến quốc gia Y sơ ra ên trong giai đoạn "sự hiện đến lần thứ nhất" của Đức Chúa Giê su (the time of Christ's First Advent). Thời điểm ấy quốc gia Y sơ ra ên đang bị bịnh, họ đang trải qua những ngày thử thách gian truân của dòng họ nhà Mác-ca-bê (the trying days of the Maccabees).
(1) Một số người là kẻ dại:
(a) Họ phải chịu sự đoán xét của Đức Chúa Trời bởi vì đời sống xấu xa và gian ác của họ (because of their iniquities).
(Thi 107:17) "Kẻ ngu dại bị khốn khổ vì sự vi phạm và sự gian ác mình".
(Phục 28:20) "Vì cớ ngươi làm điều ác, và lìa bỏ Đức Giê-hô-va, nên trong mọi công việc ngươi bắt tay làm, Ngài sẽ khiến giáng cho ngươi sự rủa sả, kinh khủng, và hăm dọa cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt và chết mất vội vàng".
(b) Họ không còn biết thèm thức ăn và nhanh chóng đến gần sự chết.
(Thi 107:18) "Lòng chúng nó gớm ghê các thứ đồ ăn; họ đến gần cửa sự chết".
(2) Nhưng một số nhỏ những người có lòng mộ đạo của quốc gia (a godly remnant of the nation) đang cầu nguyện và chờ đợi sự trông cậy của Y sơ ra ên (praying and waiting for the hope of Israel).
(Thi 107:19) "Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan".
(3) Đức Chúa Trời đã chữa lành họ bởi lòng nhân từ Ngài (His goodness).
(Thi 107:20) "Ngài ra lịnh chữa họ lành, rút họ khỏi cái huyệt".

4/ Thế nhưng Y sơ ra ên đã không có đánh giá cao về lòng thương xót của Đức Chúa Trời (take time to show their application).
(Thi 107:21-22) "21 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 22 Nguyện chúng dâng của lễ thù ân, lấy bài hát vui mừng mà thuật các công việc Ngài".

IV/ NHỮNG NGƯ PHỦ (Sailors) (Thi 107:23-32).
(Thi 107:23-24) "23 Có người đi xuống tàu trong biển, và làm việc nơi nước cả; kẻ ấy thấy công việc Đức Giê-hô-va, xem phép lạ Ngài trong nước sâu".

1/ Hình ảnh cuối cùng cũng là hình ảnh sinh động nhất (the most graphic). Đây là hình ảnh những người ngư phủ làm việc trên các chuyến tàu viễn dương (on ocean-going ships).

2/ Người đi xuống tàu אֳנִיָּה ['oniyah]. Danh từ אֳנִיָּה ['oniyah] (men of ships, seamen, shipman) có nghĩa là:
* Thủy thủ, ngư phủ (sailor). Người đi biển (The man who goes down to the sea).
* Thành viên của đoàn thủy thủ trong một thương thuyền hoặc ngư thuyền (a member of the crew of a ship or boat).
(Ê sai 42:10) "Các ngươi là kẻ đi biển cùng mọi vật ở trong biển, các cù lao cùng dân cư nó, hãy hát bài ca tụng mới cho Đức Giê-hô-va, hãy từ nơi đầu cùng đất ngợi khen Ngài!".

3/ Những sự nguy hiểm trên sông biển (dangers on the water) thường lớn hơn sự nguy hiểm trên đất liền (exceed dangers on the land).
(1) Trước hết là gió to rồi sóng lớn khiến cho:
* Chiếc thuyền lắc lư, chao đảo, lao lên thật cao, rồi lao xuống thật mạnh.
* Những mảnh váng thuyền bắt đầu kêu răng rắc và thuyền hầu gần vỡ...
(2) Tất Cả các thủy thủ đều "choáng váng xiêu tí như người say rượu và sự khôn ngoan của họ đều mất hết".
(Thi 170:25-27) "25 Ngài biểu, bèn có trận gió bão, Nổi các lượn sóng lên. 26 đưa cao đến các từng trời, rồi hụp xuống tới vực sâu: Lòng họ tiêu tan vì khốn khổ. 27 Họ choáng váng xiêu tó như một người say, sự khôn ngoan họ đều mất hết".

4/ Đối diện trước cái chết, các thủy thủ vốn hay rủa sả, chửi thề và vô tín cũng phải cúi đầu cầu nguyện.
(Thi 107: 28a) "Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va".
* Họ chỉ còn có thể biết ngửa trông lên Đức Chúa Trời (only look up).
* Bởi vì, khi họ ở giữa cơn bão tố (in the midst of a violent storm), thì họ sẽ tìm được sự giúp đỡ từ đâu ngoài Đức Chúa Trời?
(Giô na 1:6) "Chủ tàu bèn đến gần người và bảo rằng: Hỡi người ngủ kia, làm sao vậy? Khá chờ dậy! Hãy kêu cầu Đức Chúa Trời ngươi. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ tưởng đến chúng ta, thì chúng ta khỏi chết".
(Thi 107:19) "Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan".

5/ Và Đức Chúa Trời đã cứu họ (Lord rescued them).
(Thi 107: 28b) "Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan".
(Thi 4:1) "Hỡi Đức Chúa Trời của sự công bình tôi, Khi tôi kêu cầu, xin hãy đáp lời tôi. Khi tôi bị gian truân Ngài để tôi trong nơi rộng rãi; Xin hãy thương xót tôi, và nghe lời cầu nguyện tôi".
(1) Ngài làm ngưng cơn bão (He calmed the storm).
(Thi 107:29) "Ngài ngừng bão-tố, đổi nó ra bình tịnh, và sóng êm lặng".
(Thi 93:3-4) "3 Hỡi Đức Giê-hô-va, nước lớn đã nổi lên, Nước lớn đã cất tiếng lên; Nước lớn đã nổi các lượn sóng ồn ào lên. 4 Đức Giê-hô-va ở nơi cao có quyền năng Hơn tiếng nước lớn, Hơn các lượn sóng mạnh của biển".
(Thi 65:7) "Chúa dẹp yên sự ầm ầm của biển, sự ồn ào của sóng nó, Và sự xao động của các dân".
(Lu 8:24) "Môn đồ bèn đến thức Ngài dậy, rằng: Thầy ôi, Thầy ôi, chúng ta chết! Nhưng Ngài, vừa thức dậy, khiến gió và sóng phải bình tịnh thì liền bình tịnh và yên lặng như tờ".
(2) Rồi Ngài mang họ đến bến bờ như mong ước (He brought them to their desired destination).
(Thi 107:30) "Họ bèn vui mừng vì sóng êm lặng; Chúa dẫn họ vào bến họ ước ao".
(Giăng 6:15-21) "15 Bấy giờ Đức Chúa Jêsus biết chúng có ý đến ép Ngài để tôn làm vua, bèn lui ở một mình trên núi. 16 Đến chiều, môn đồ xuống nơi bờ biển, 17 và vào trong một chiếc thuyền, sang thẳng bờ bên kia, hướng về thành Ca-bê-na-um. Trời chợt tối, mà Đức Chúa Jêsus còn chưa đến cùng các môn đồ. 18 Gió thổi ào ào, đến nỗi biển động dữ dội. 19 Khi các môn đồ đã chèo ra độ chừng hai mươi lăm hay là ba mươi ếch-ta-đơ, thấy Đức Chúa Jêsus đi trên mặt biển, gần tới chiếc thuyền, thì sợ hãi. 20 Nhưng Ngài phán rằng: Ấy là ta đây, đừng sợ chi! 21 Bấy giờ, môn đồ muốn rước Ngài vào thuyền; tức thì chiếc thuyền đậu vào bờ, là nơi định đi".

6/ Sau khi được Đức Chúa Trời giải cứu:
(1) Những thủy thủ nầy (the relieved seamen) đã không tạ ơn Chúa (forget to thank the Lord) vì sự nhân từ đời đời (His unfailing goodness) cùng những sự nhậm lời cầu nguyện cách diệu kỳ của Ngài (all wonderful answers to prayer he gives).
(2) Đáng lý ra các thủ thủ được cứu nầy phải tôn cao Đức Chúa Trời trong hội dân sự, và ngợi khen Ngài tại nơi hiệp tập các trưởng lão.
(Thi 107:31-32) "31 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 32 Người ta cũng hãy tôn cao Ngài trong hội dân sự, Và ngợi khen, Ngài tại nơi hiệp tập các trưởng lão".

7/ Rất nhiều nhà giải kinh cho rằng đây là phân đoạn Kinh thánh mô tả: Trận bão" cuối cùng của Y sơ ra ên (Israel' s final storm) trước khi họ được bước vào vương quốc bình an của họ (her subsequent entrance into the kingdom of peace).
(1) Cơn bão nầy gợi ý đến cơn đại nạn (the Great Tribulation).
(2) Biển làm hình bóng cho các quốc gia dân ngoại đang sôi sục không hề ngưng nghỉ (the seething, restless Gentile nations).
(3) Các thủy thủ tượng trưng cho dân Y sơ ra ên, bị dồi dập trên sóng của các quốc gia khác (tossed about by the other nations) trong thời kỳ hoạn nạn của Gia cốp (the Time of Jacob's Trouble).
(4) Một nhóm nhỏ dân sót biết tin cậy Chúa (a believing remnant) của Y sơ ra ên kêu cầu Đức Chúa Trời.
(5) Bấy giờ Đức Chúa Trời sẽ đích thân can thiệp (He personally intervenes), Ngài tái lâm đến trần gian để thiết lập triều đại bình an và thịnh vượng của Ngài (set up His reign of peace and prosperity).

V/ NHỮNG NGƯỜI NÔNG DÂN (Farmers) (Thi 107: 33-38).

(Thi 107:37-38) "Họ gieo ruộng và trồng nho, ruộng và nho sanh bông trái".

1/ Chỉ có Chúa mới có thể ban mưa (send the rain) và biến sa mạc thành ruộng vườn (turns the wilderness into a garden)
(Thi 107:35) "Ngài biến đồng vắng thành ao nước, đất khô ra những suối nước".
(Ê sai 43:19) "Nầy, ta sắp làm một việc mới, việc nầy sẽ hiện ra ngay; các ngươi há chẳng biết sao? Ấy là ta sẽ vạch một con đường trong đồng vắng, và khiến những sông chảy trong nơi sa mạc".
(Ê sai 51:3) "Vì Đức Giê-hô-va đã yên ủi Si-ôn; Ngài đã yên ủi mọi nơi đổ nát của nó. Ngài đã khiến đồng vắng nên như vườn Ê-đen, nơi sa mạc nên như vườn Đức Giê-hô-va; giữa vườn ấy sẽ có sự vui vẻ, mừng rỡ, tạ ơn, và tiếng ca hát".

2/ Chỉ có Chúa mới có thể khiến cho đàn gia súc họ trở nên đông đúc (make the cattle multiply).
(Thi 107:38) "Đức Chúa Trời ban phước cho họ đến đỗi họ sanh sản nhiều thêm; Ngài không để cho súc vật họ bị hao hớt".
(Phục 7:13) "Ngài sẽ yêu mến ngươi, ban phước cho ngươi, gia tăng ngươi, ban phước cho con cái ngươi, cho thổ sản ngươi, cho ngũ cốc, rượu, và dầu của ngươi, cho lứa đẻ của bò cái, chiên cái ngươi sai đông trên đất mà Ngài đã thề cùng tổ phụ ngươi, để ban cho ngươi".
(Phục 28:4) "Bông trái của thân thể ngươi, hoa quả của đất ruộng ngươi, sản vật của sinh súc ngươi, luôn với lứa đẻ của bò cái và chiên cái ngươi, đều sẽ được phước".

3/ Chúng ta có được sự no đủ; nhưng chúng ta có để thì giờ để cảm tạ Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho chúng ta lương thực không? (But do we take time to thank the Lord for giving us food).
(Phục 6:10-13) "10 Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã dẫn ngươi vào xứ mà Ngài thề cùng tổ phụ ngươi, là Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, đặng ban cho ngươi, khiến ngươi lấy được những thành lớn và tốt mà ngươi không có xây cất; 11 những nhà đầy đủ các thứ của mà ngươi không có chất chứa; các giếng mà ngươi không có đào; cây nho và cây ô-li-ve mà ngươi không có trồng; khi ngươi ăn và được no nê, 12 khá giữ lấy mình, kẻo ngươi quên Đức Giê-hô-va, là Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi nhà nô lệ. 13 Ngươi phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, phục sự Ngài, và lấy danh Ngài mà thề".

KẾT LUẬN.

I/ Có một mẫu hình ứng xử phổ biến trong các đời sống của dân sự của Đức Chúa Trời (There is a common behavior pattern in the lives of God's people).
Có thể tóm tắc bằng các từ đều bắt đầu với hai phụ âm "S" và "R" (Anh ngữ)
(1) Phụ âm "S":
Sin (sự phạm tội).
Servitude (sự nô lệ).
Supplication (sự cầu xin).
Salvation (sự cứu rỗi).
(2) Phụ âm "R":
Rebellion (sự nổi loạn).
Retribution (sự trừng phạt).
Repentance (sự ăn năn).
Restoration (sự khôi phục).

1/ Đây chính là nội dung của câu chuyện về "Người con trai hoang đàng" mà Đức Chúa Giê su đã kể trong Lu ca 15:11-24.
(1) Trước tiên dân sự của Đức Chúa Trời đi lạc xa Chúa, bước đi trong nếp sống không vâng theo lời Ngài.
(2) Rồi họ phải chịu những hậu quả cay đắng của sự sa ngã vào tội lỗi.
(3) Khi đã cùng đường, họ ăn năn và kêu cầu Chúa.
(4) Bấy giờ Ngài tha tội cho họ và đưa họ trở về địa vị phước hạnh.

2/ Hai sự kiện cơ bản nổi bậc khi suy gẫm chu kỳ luôn tái diễn nầy là:
(1) Xu hướng mãi mãi của lòng người là luôn luôn muốn đi xa cách Đức Chúa Trời hằng sống.
(2) Nhưng lòng yêu thương không hề cạn kiệt của Đức Chúa Trời đối với dân sự của Ngài, là Ngài sẽ khôi phục họ khi họ đến với Ngài bằng tấm lòng ăn năn.

II/ Thật dễ để nghĩ rằng lòng nhân từ của Đức Chúa Trời (God's mercy) là điều dương nhiên.

1/ Sự vô ơn bạc nghĩa (ingratitude) dường như bản tính tự nhiên của tấm lòng loài người tội lỗi (natural to the sinful human heart).
(Thi 107:8) "Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!".
(Thi 107:15) "Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!".
(Thi 107:21) "Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!"
(Thi 107:31) "Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!".
(Rô 1:21) "vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm".

2/ Tuy nhiên, bất cứ người nào khôn ngoan đều sẽ nhìn thấy:
(1) Cánh tay của Đức Chúa Trời (the hand of God) ở đằng sau tất cả những sự thay đổi của các vận mệnh của loài người và các quốc gia (behind the changing fortunes of men and of nations); và họ sẽ rút được những bài học từ lịch sử của các biến cố đương thời.
(Thi 107:43) "Phàm kẻ nào khôn ngoan sẽ chú ý về điều nầy, và suy gẫm sự nhân từ của Đức Giê-hô-va".
(2) Người khôn ngoan sẽ nhận biết lòng nhân từ yêu thương của Chúa (the loving-kindnesses of the Lord) trong cách Ngài đối đãi với tất cả những ai tin cậy và vâng lời Ngài.
(Thi 107:1-2) "1 Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; sự nhân từ Ngài còn đến đời đời Các người Đức Giê-hô-va đã chuộc khỏi tay kẻ hà hiếp hãy nói điều đó, 3 Tức là các người Ngài đã hiệp lại từ các xứ; từ phương đông, phương tây, phương bắc, phương nam".