(Thi 104:1-35) "1 Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ kỳ. Mặc sự sang trọng và oai nghi! 2 Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng khác nào bằng cái áo, Giương các từng trời ra như cái trại. 3 Ngài chấp các đòn tay của phòng cao Ngài trong các nước, Dùng mây làm xe Ngài, Và đi bước trên cánh gió. 4 Ngài dùng gió làm sứ Ngài, Ngọn lửa làm tôi tớ Ngài. 5 Ngài sáng lập đất trên các nền nó; Đất sẽ không bị rúng động đến đời đời. 6 Chúa lấy vực sâu bao phủ đất như bằng cái áo, Nước thì cao hơn các núi. 7 Chúa hăm dọa, nước bèn giựt lại; Nghe tiếng sấm Chúa, nước lật đật chạy trốn. 8 Núi lố lên, trũng sụp sâu xuống chốn mà Chúa đã định cho nó. 9 Chúa định chân cho nước để nước không hề qua khỏi, Không còn trở lại ngập đất nữa. 10 Ngài khiến các suối phun ra trong trũng, Nó chảy giữa các núi. 11 Nhờ các suối ấy hết thảy loài thú đồng được uống; Các lừa rừng giải khát tại đó. 12 Chim trời đều ở bên các suối ấy, Trổi tiếng nó giữa nhánh cây. 13 Từ phòng cao mình, Ngài tưới các núi; Đất được đầy dẫy bông trái về công việc Ngài. 14 Ngài làm cho cỏ đâm lên cho súc vật, Cây cối để dùng cho loài người, Và khiến thực vật sanh ra từ nơi đất. 15 Rượu nho, là vật khiến hứng chí loài người, Và dầu để dùng làm mặt mày sáng rỡ, Cùng bánh để thêm sức cho lòng loài người. 16 Cây cối Đức Giê-hô-va được đầy mủ nhựa, Tức là cây hương nam tại Li-ban mà Ngài đã trồng, 17 Là nơi loài chim đóng ổ nó; Còn con cò, nó dùng cây tùng làm chỗ ở của nó. 18 Các núi cao là nơi ở của dê rừng; Hòn đá là chỗ ẩn núp của chuột đồng. 19 Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thì tiết; Mặt trời biết giờ lặn. 20 Chúa làm sự tối tăm, và đêm bèn đến; Khi ấy các thú rừng đi ra; 21 Những sư tử tơ gầm hét về miếng mồi, Và cầu xin Đức Chúa Trời đồ ăn chúng nó. 22 Mặt trời mọc lên, chúng nó bèn rút về, Nằm trong hang chúng nó. 23 Bấy giờ loài người đi ra, đến công việc mình, Và làm cho đến chiều tối. 24 Hỡi Đức Giê-hô-va, công việc Ngài nhiều biết bao! Ngài đã làm hết thảy cách khôn ngoan; Trái đất đầy dẫy tài sản Ngài. 25 Còn biển lớn và rộng mọi bề nầy! Ở đó sanh động vô số loài vật nhỏ và lớn. 26 Tại đó tàu thuyền đi qua lại, Cũng có lê-vi-a-than mà Chúa đã nắn nên đặng giỡn chơi nơi đó. 27 Hết thảy loài vật nầy trông đợi Chúa, Hầu cho Chúa ban đồ ăn cho chúng nó theo giờ. 28 Chúa ban cho chúng nó, chúng nó nhận lấy; Chúa sè tay ra, chúng nó được no nê vật tốt. 29 Chúa giấu mặt, chúng nó bèn bối rối, Chúa lấy hơi thở chúng nó lại, chúng nó bèn tắt chết, và trở về bụi đất. 30 Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên; Chúa làm cho mặt đất ra mới. 31 Nguyện sự vinh hiển Đức Giê-hô-va còn đến mãi mãi; Nguyện Đức Giê-hô-va vui vẻ về công việc Ngài. 32 Ngài nhìn đất, đất bèn rúng động; Ngài rờ đến núi, núi bèn lên khói. 33 Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy. 34 Nguyện sự suy gẫm tôi đẹp lòng Ngài; Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va. 35 Nguyện tội nhân bị diệt mất khỏi đất, Và kẻ ác chẳng còn nữa. Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!".

DẪN NHẬP.

* Thi Thiên 104 ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự đầy đủ của Ngài với tư cách Ngài là Đấng Tạo hoá (for His fullness as Creator).
* Thi thiên 105 ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự thành tín của Ngài với tư cách Ngài là Đấng cứu chuộc (for His faithfulness as Redeemer).
* Thi thiên 106 ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự tha tội của Ngài với tư cách Ngài là Chúa Cứu thế của dân sự Ngài (for His forgiveness as Saviour of His people).
Thật dễ dàng biết bao để cho rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng vũ trụ nầy!
Chúng ta nhìn thấy những khuyết khuyết nhưng không nhìn thấy những phước hạnh (we see the blemishes but not the blessings). Và chúng ta quên điều tốt lành trên thế gian mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta (what kind of world God gave us).
Có lẽ Thi thiên 104 là một bài thơ của một tác giả ẩn danh nào đó đã sáng tác vào thời kỳ tiền lưu đày (preexilic author), ông đã chuyển thể từ bản ký thuật về sự sáng tạo trong Sáng thế ký 1 mà Môi se đã ký thuật (recounted) thành một bài Thi thiên (psalm).
Trong khi Sáng thế ký đoạn 1 kể lại sự sáng tạo như là công việc trước nhất của sự khởi đầu, thì Thi thiên 104 suy nghĩ sự sáng tạo đã phô bày trước mắt ông bằng ngôn ngữ thi thơ; và ông kêu gọi linh hồn của ông hãy ca ngợi Đức Chúa Trời vì sự vĩ đại, vì sự sang trọng và vì sự oai nghi, cùng sự vinh hiển của Ngài.
(Thi 104:1) "Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ kỳ. Mặc sự sang trọng và oai nghi!"

I/ VŨ TRỤ LÀ MỘT NƠI CỦA SỰ VĨ ĐẠI (it is a place of greatness).
1/ Vũ trụ to lớn không phải do con người làm nên; nhưng do Đức Chúa Trời tạo dựng (not the greatness of man but the greatness of God).
Thi thiên 104 công bố sự vĩ đại của Đức Chúa Trời chủ yếu trong mối liên hệ với tạo vật. Các từng trời và trái đất, mặt trời và mặt trăng, các đại dương, các sông suối, núi đồi và thung lũng, cây cỏ và bông trái, các loài thú, các loài chim và các loài cá tất cả đều bày tỏ công việc vĩ đại của bàn tay Đức Chúa Trời (God's handiwork).

2/ Sau khi tác giả đọc Sáng thế ký đoạn 1 và quan sát vũ trụ mà Đức Chúa Trời tạo dựng đã tạo nguồn cảm hứng (inspired) cho tác giả ẩn danh nầy viết lên những lời của Thi thiên 104:1-9.
Đọc suốt Thi thiên 104, chúng ta thấy mình như đang sống lại những ngày của sự tạo dựng trời đất trong Sáng thế ký đoạn 1 (reliving the days of creation in Genesis 1). Tác giả Thi thiên sửng sốt trước những sự sắp đặt thần hựu của Đức Chúa Trời (the providential arrangements of God) cho các tạo vật của Ngài (for His creatures) đặc biệt cho con người.

3/ Thi thiên 104 đã xử dụng rất nhiều ngôn ngữ ẩn dụ (figurative language) để miêu tả về Đức Chúa Trời; bởi vì nếu ông không xử dụng ngôn ngữ biểu tượng thì ông không thế nào có thể mô tả được một Đức Chúa Trời không thấy được (invisible God); hoặc làm sao ông có thể mô tả được sự vĩ đại vô hạn của Ngài (His infinite greatness) bằng những lời nói hữu hạn của loài người (with finite words)!
(Thi 104:2-9) "2 Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng khác nào bằng cái áo, Giương các từng trời ra như cái trại. 3 Ngài chấp các đòn tay của phòng cao Ngài trong các nước, Dùng mây làm xe Ngài, Và đi bước trên cánh gió. 4 Ngài dùng gió làm sứ Ngài, Ngọn lửa làm tôi tớ Ngài. 5 Ngài sáng lập đất trên các nền nó; Đất sẽ không bị rúng động đến đời đời. 6 Chúa lấy vực sâu bao phủ đất như bằng cái áo, Nước thì cao hơn các núi. 7 Chúa hăm dọa, nước bèn giựt lại; Nghe tiếng sấm Chúa, nước lật đật chạy trốn. 8 Núi lố lên, trũng sụp sâu xuống chốn mà Chúa đã định cho nó. 9 Chúa định chân cho nước để nước không hề qua khỏi, Không còn trở lại ngập đất nữa".

(1) Đức Chúa Trời bao phủ mình bằng ánh sáng khác nào bằng cái áo (He wraps himself in light as with a garment).
(Thi 104:2a) "Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng khác nào bằng cái áo".
* Đức Chúa Trời mặc áo שַׂלְמָה [salmah] (a garment) bằng ánh sáng אוֹר ['owr] (light). Đây là một biểu tượng chỉ về sự thánh khiết và sự công bình tuyệt đối của Ngài (a symbol of His absolute purity and righteousness).
(Thi 18:12) "Từ sự rực rỡ ở trước mặt Ngài, ngang qua các mây mịt mịt của Ngài, Có phát ra mưa đá và than hực lửa".
(I Tim 6:16) "một mình Ngài có sự không hề chết, ở nơi sự sáng không thể đến gần được, chẳng người nào từng thấy Ngài và cũng không thấy được, danh vọng, quyền năng thuộc về Ngài đời đời! A-men".

(2) Đức Chúa Trời giương các từng trời ra như cái trại (He stretches out the heavens like a tent).
(Thi 104:2b) "Giương các từng trời ra như cái trại".
* Đức Chúa Trời giương נָטָה [natah] (stretchest out) các từng trời ra như giương cái trại hoặc căn một cái màn. Vì trong tiếng Hy bá lai (Hebrew) danh từ יְרִיעָה [yĕriy`ah] vừa có nghĩa là một cái trại (tent) mà cũng có nghĩa là một cái màn (curtain).
* Công trình vĩ đại của Đức Chúa Trời trong sự tạo dựng các bầu trời qua việc Ngài giương các từng trời cùng các tinh tú (He spreads the stellar and atmospheric heavens) bên trên trái đất như căn một bức màn hay một cái trại đã làm cho tâm trí tác giả phải sửng sốt trước sự bao la và mênh mông của nó (boggles the mind by its immensity).
(Sáng 1:6-7) "6 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có một khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước. 7 Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không; thì có như vậy".
(Thi 24:1-2) "1 Đất và muôn vật trên đất, Thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giê-hô-va. 2 Vì Ngài đã lập đất trên các biển, Và đặt nó vững trên các nước lớn".
(Thi 136:6) "Ngài trương đất ra trên các nước, Vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời".
(Ê sai 40:22) "Ấy là Đấng ngự trên vòng trái đất nầy, các dân cư trên đất như cào cào vậy. Chính Ngài là Đấng giương các từng trời ra như cái màn, và giương ra như trại để ở".
(Ê sai 44:24) "Đức Giê-hô-va, là Đấng Cứu chuộc ngươi, đã gây nên ngươi từ trong lòng mẹ, phán như vầy: Ta là Đức Giê-hô-va, đã làm nên mọi vật, một mình ta đã giương các từng trời và trải đất, ai ở cùng ta?".
(Ê sai 45:12) "Ấy chính ta đã làm ra đất, dựng nên loài người ở trên đất; chính ta, tức là tay ta, đã giương ra các từng trời, và đã truyền bảo các cơ binh nó".
(Ê sai 48:13) "Tay ta đã lập nền đất, tay hữu ta đã giương các từng trời; ta gọi đến, trời đất đều đứng lên".
(Xa 12:1) "Gánh nặng lời Đức Giê-hô-va phán về Y-sơ-ra-ên. Đức Giê-hô-va là Đấng giương các từng trời, lập nền của đất, và tạo thần trong mình người ta, có phán như vầy:..."

(3) Đức Chúa Trời chấp các đòn tay của phòng cao Ngài trong các nước (He lays the beams of His upper chambers on their waters).
(Thi 104:3a) "Ngài chấp các đòn tay của phòng cao Ngài trong các nước".
* Đức Chúa Trời chấp các đòn tay קָרָה [qarah] (lay the beams) của phòng cao Ngài עֲלִיָּה [`aliyah] (his chambers).
* Những đám mây đầy nước מַיִם [mayim] (in the waters) bao phủ bên trên trái đất (the watery cloud cover over the earth) tạo thành nền (the foundation) để các trụ và các đòn tay cho các từng trời (the pillars of the heavens) được dựng lên trên nó.
(Sáng 1:7) "Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không; thì có như vậy".
(A mốt 9:6) "Chúa đã xây dựng cung đền Ngài trong các từng trời, đã lập vòng khung Ngài trên đất. Ngài kêu gọi nước biển và đổ ra trên mặt đất. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va".
(Giê 10:12) "Chính Đức Giê-hô-va đã làm nên đất bởi quyền năng Ngài, đã lập thế gian bởi sự khôn ngoan Ngài, đã giương các từng trời ra bởi sự thông sáng Ngài".

(4) Đức Chúa Trời dùng các đám mây để làm xe của Ngài (He makes the clouds His chariots). Và Ngài bước đi trên các cánh của gió (He rides on the wings of the wind).
(Thi 104:3b) "Ngài dùng mây làm xe Ngài. Ngài đi bước trên cánh gió".
* Đức Chúa Trời dùng các đám mây עָב [`ab] (the clouds) làm xe Ngài רְכוּב [rĕkuwb] (his chariot). Đức Chúa Trời cỡi הָלַךְ [halak] (rides / walks upon) trên cánh gió רוּחַ [ruwach] (wind).
* Những đám mây nhờ những gió lướt nhanh trên bầu trời (scudding across the sky) là hình ảnh biểu tượng của những chiến xa của Đức Chúa Trời đang di chuyển.
(Ê sai 19:1) "Gánh nặng về Ê-díp-tô. Nầy, Đức Giê-hô-va cỡi đám mây mau kíp đến Ê-díp-tô; các thần tượng của Ê-díp-tô đều run rẩy trước mặt Ngài, lòng Ê-díp-tô sẽ tan chảy giữa nó".
(Thi 18:10) "Ngài cỡi chê-ru-bin và bay, Ngài liệng trên cánh của gió".
(Thi 99:1) "Đức Giê-hô-va cai trị: các dân hãy run sợ; Ngài ngự trên các chê-ru-bin: trái đất khá rúng động".
(II Vua 2:11) "Hai người cứ vừa đi vừa nói với nhau, kìa, có một cái xe lửa và ngựa lửa phân rẽ hai người; Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc".
(Na 1:3) "Đức Giê-hô-va chậm giận và có quyền lớn; nhưng Ngài chẳng cầm kẻ mắc tội là vô tội. Đức Giê-hô-va đi trong gió lốc và bão tố, những đám mây là bụi dưới chân Ngài".

(5) Đức Chúa Trời dùng các cánh gió để làm các sứ giả của Ngài (He makes winds His mesengers). Ngọn lửa làm tôi tớ Ngài (flames of fire His servants).
(Thi 104:4) "Ngài dùng gió làm sứ Ngài. Ngọn lửa làm tôi tớ Ngài".
* Đức Chúa Trời dùng các cánh gió רוּחַ [ruwach] (winds / spirits) để làm các sứ giả của Ngài שָׁרַת [sharath] (His angels / mesengers). Và dùng lửa אֵשׁ ['esh] (fire) làm các tôi tớ của Ngài שָׁרַת [sharath] (His ministers).
* Trong tiếng Hy bá lai (Hebrew) רוּחַ [ruwach] vừa có nghĩa là gió (wind) vừa có nghĩa là linh (spirit). Và שָׁרַת [sharath] vừa có nghĩa là thiên sứ (angel) vừa có nghĩa là sứ giả (mesenger).
(Thi 148:8) "Hỡi lửa mà mưa đá, tuyết và hơi nước, Gió bão vâng theo mạng Ngài".
(II Vua 2:1) "Khi Đức Giê-hô-va muốn đem Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc, Ê-li và Ê-li-sê ở Ghinh ganh đi ra".
(II Vua 2:11) "Hai người cứ vừa đi vừa nói với nhau, kìa, có một cái xe lửa và ngựa lửa phân rẽ hai người; Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc".
(II Vua 6:17) "Đoạn, Ê-li-sê cầu nguyện mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi, xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được. Đức Giê-hô-va mở mắt người ra, thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở chung quanh Ê-li-sê"
* Trong tiếng Hy lạp (Greek) cũng có cùng một bộ nghĩa kép nầy:
(Hê 1:7) "Nói về thiên sứ ἄγγελος [aggelos] (the angel) thì Ngài phán rằng: Đức Chúa Trời làm cho thiên sứ Ngài như gió πνεῦμα [pneuma] (wind / spirit), Và tôi tớ Ngài λειτουργός [leitourgos] (minister) như ngọn lửa πῦρ [pyr] (a flame fire)".

(6) Đức Chúa Trời đã sáng lập các nền מָכוֹן [makown] (the foundations) của trái đất אֶרֶץ ['erets] (of the earth).
(Thi 104:5) "Ngài sáng lập đất trên các nền nó; Đất sẽ không bị rúng động đến đời đời (He set the earth on its foundations; it can never be moved).
(a) Có hai ý kiến về danh từ אֶרֶץ ['erets] (earth / land).
* Danh từ אֶרֶץ ['erets]: Đất, đất liền (the land). Phần rắn của bề mặt trái đất (the solid part of the earth's surface) tương phản với biển, nước, hoặc không khí (opp. Sea, water, air) nhằm cung cấp một bề mặt vững vàng, không thể rúng động (a stable, unshakable surface) cho cư dân ở.
(Gióp 38:4-6) "4 Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu? Nếu ngươi thông sáng, hãy tỏ bày đi. 5 Ai đã định độ lượng nó, Và giăng dây mực trên nó,
ngươi có biết chăng? Nền nó đặt trên chi? Ai có trồng hòn đá góc của nó?".
* Danh từ אֶרֶץ ['erets]: Đất, trái đất (the earth). Hành tinh mà chúng ta đang sinh sống (the planet on which we live)
(Gióp 26:7) "Chúa trải bắc cực ra trên vùng trống, Treo trái đất trong khoảng không không".
(II Sa 2:8) "Vì các trụ của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va: Ngài đã đặt thế gian ở trên đó".
(b) Cho dù danh từ אֶרֶץ ['erets] mang ý nghĩa nào, tác giả Thi thiên 104 cũng hết sức sửng sốt khi ông nhớ lại thế nào Đức Chúa Trời đã tạo thành đất (the land) và trái đất (the earth) trên các nền vô hình (invisible foundations).
(Thi 104:5) "Ngài sáng lập đất trên các nền nó; Đất sẽ không bị rúng động đến đời đời".
(Thi 24:1-2) "1 Đất và muôn vật trên đất, Thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giê-hô-va. 2 Vì Ngài đã lập đất trên các biển, Và đặt nó vững trên các nước lớn".
(Thi 102:25) "Thuở xưa Chúa lập nền trái đất, Các từng trời là công việc của tay Chúa".

(7) Đức Chúa Trời đã định ranh giới עָמַד [`amad] (stood) cho các nước מַיִם [mayim] (the waters).
(Thi 104: 6) "Chúa định chân cho nước để nước không hề qua khỏi, Không còn trở lại ngập đất nữa" (He set a boundary they cannot cross; never again will they cover the earth).
* Từ lúc ban đầu, toàn bộ trái đất được bao phủ bởi nước sâu, ngay cả các ngọn núi cao cũng đều bị phủ ngập (submerged).
(Sáng 1:2) "Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước".
* Đến ngày thứ ba (on the third day) Đức Chúa Trời mới phân định ranh giới giữa nước và đất.
(Sáng 1:9) "Đức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra; thì có như vậy".
(Gióp 38:8) "Vả lại, khi biển bể bờ và cất ra khỏi lòng đất, Ai đã lấy các cửa mà ngăn đóng nó lại?".
(Thi 33:7) "Ngài thâu các nước biển lại thành như đống, Và trữ những nước sâu trong chỗ chứa".
(Giê 5:22) "Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi chẳng kính sợ ta, chẳng run rẩy trước mặt ta sao? Ta là Đấng đã lấy cát làm bờ cõi biển, bởi một mạng lịnh đời đời, không vượt qua được. Sóng biển dầu động, cũng không thắng được; biển dầu gầm rống, cũng không qua khỏi nó".

4/ Chỉ có Đức Chúa Trời khôn ngoan và vĩ đại (a great and wise God) mới có thể làm một vũ trụ thật to lớn lạ kỳ nầy. Vì thế tác giả Thi thiên đã thốt lên:
(Thi 104:1) "Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ kỳ. Mặc sự sang trọng và oai nghi!".

(1) Thật lớn lạ kỳ (very great).
(Thi 104:1) "Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ kỳ".
(a) Hy bá lai (Hebrew) גָּדַל [gadal] (very great): Rất lớn, rất to lớn, vĩ đại.
* Cao hơn mức bình thường hoặc trung bình rất nhiều về cỡ, qui mô hoặc lượng (of a size, amount, extent, or intensity considerably above the normal or average).
* Có khả năng hoặc phẩm chất phi thường (great or outstanding person).
(Thi 57:10) "Vì sự nhân từ Chúa lớn đến tận trời, Sự chân thật Chúa cao đến các từng mây".
(b) Hy lạp (Greek) μέγας [megas] (brilliant): Rực rỡ.
* Rất thông minh, rất giỏi, hoặc rất có tài (outstanding, talented, intelligent).
* Rất tốt, xuất sắc (extremely good, pre-eminent).
* Rất lớn, khổng lồ, đồ sộ (very large, enormous, huge).
* Nổi tiếng, tuyệt vời, cực kỳ tốt (well known, excellent, very great).
(Mat 2:10) "Mấy thầy thấy ngôi sao, mừng rỡ quá bội".
(Lu 2:10) "Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân".
(Êp 2:4) "Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta".

(2) Sang trọng הוֹד [howd] (splendor / honour): Sự tráng lệ, vinh hiển, vinh dự.
(Thi 104:1c) "Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ kỳ. Mặc sự sang trọng và oai nghi!".
(a) Hy bá lai (Hebrew) הוֹד [howd] (splendor): Sự tráng lệ, huy hoàng, lộng lẫy, hùng vĩ, vinh hiển. Khiến cho người khác phải tôn kính (high respect).
(Thi 8:1) "Hỡi Đức Giê-hô-va là Chúa chúng tôi, Danh Chúa được sang cả trên khắp trái đất biết bao; Sự oai nghi Chúa hiện ra trên các từng trời!".
(Thi 45:3) "Hỡi Đấng mạnh dạn, hãy đai gươm nơi hông, Là sự vinh hiển và sự oai nghi của Ngài".
(Ha 3:3) "Đức Chúa Trời đến từ Thê-man, Đấng Thánh đến từ núi Pha-ran. Vinh hiển Ngài bao phủ các từng trời, Đất đầy sự khen ngợi Ngài".
(b) Latin "splendère": Chiếu sáng (to shine).
* Sự chiếu sáng khiến cho hoa mắt (dazzling brightness).
(Gióp31:26) "Nếu tôi có thấy mặt trời chiếu sáng,và mặt trăng mọc lên soi tỏ"

(3) Oai nghi הָדָר [hadar] (majesty / glory): Oai vệ, vinh quang.
(Thi 104:1c) "Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ kỳ. Mặc sự sang trọng và oai nghi!".
(a) Hy bá lai (Hebrew) הָדָר [hadar] (majesty): Uy nghi, oai nghiêm, đường bệ.
(Gióp 37:22b) "Nơi Đức Chúa Trời có oai nghiêm đáng sợ thay!".
(Thi 93:1) "Đức Giê-hô-va cai trị; Ngài mặc sự oai nghi; Đức Giê-hô-va mặc mình bằng sức lực, và thắt lưng bằng sự ấy: Thế gian cũng được lập vững bền, không thế bị rúng động".
(Đa 7:9) "Ta nhìn xem cho đến chừng các ngôi đã đặt, và có Đấng Thượng Cổ ngồi ở trên. Áo Ngài trắng như tuyết, và tóc trên đầu Ngài như lông chiên sạch. Ngôi Ngài là những ngọn lửa, và các bánh xe là lửa hừng".
(b) Latin "majestas-tatis": Tôn trọng, quan trọng (major).
(Giu đe 1:8) "Nhưng mà chúng nó cũng như vậy, trong giấc mơ màng làm ô uế xác thịt mình, khinh dể quyền phép rất cao và nói hỗn các đấng tôn trọng"
(c) Hy lạp (Greek) δόξα [doxa] (glory): Sự vinh quang, vẻ vang, danh tiếng, vẻ lộng lẫy, vẻ huy hoàng, sự tráng lệ.
(Hê 1:3) "Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bản thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật; sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao".

II/ VŨ TRỤ LÀ MỘT NƠI CỦA SỰ TỐT LÀNH (it is a place of goodness).
(Thi 104:10-30) "10 Ngài khiến các suối phun ra trong trũng, Nó chảy giữa các núi. 11 Nhờ các suối ấy hết thảy loài thú đồng được uống; Các lừa rừng giải khát tại đó. 12 Chim trời đều ở bên các suối ấy, Trổi tiếng nó giữa nhánh cây. 13 Từ phòng cao mình, Ngài tưới các núi; Đất được đầy dẫy bông trái về công việc Ngài. 14 Ngài làm cho cỏ đâm lên cho súc vật, Cây cối để dùng cho loài người, Và khiến thực vật sanh ra từ nơi đất. 15 Rượu nho, là vật khiến hứng chí loài người, Và dầu để dùng làm mặt mày sáng rỡ, Cùng bánh để thêm sức cho lòng loài người. 16 Cây cối Đức Giê-hô-va được đầy mủ nhựa, Tức là cây hương nam tại Li-ban mà Ngài đã trồng, 17 Là nơi loài chim đóng ổ nó; Còn con cò, nó dùng cây tùng làm chỗ ở của nó. 18 Các núi cao là nơi ở của dê rừng; Hòn đá là chỗ ẩn núp của chuột đồng. 19 Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thì tiết; Mặt trời biết giờ lặn. 20 Chúa làm sự tối tăm, và đêm bèn đến; Khi ấy các thú rừng đi ra; 21 Những sư tử tơ gầm hét về miếng mồi, Và cầu xin Đức Chúa Trời đồ ăn chúng nó. 22 Mặt trời mọc lên, chúng nó bèn rút về, Nằm trong hang chúng nó. 23 Bấy giờ loài người đi ra, đến công việc mình, Và làm cho đến chiều tối. 24 Hỡi Đức Giê-hô-va, công việc Ngài nhiều biết bao! Ngài đã làm hết thảy cách khôn ngoan; Trái đất đầy dẫy tài sản Ngài. 25 Còn biển lớn và rộng mọi bề nầy! Ở đó sanh động vô số loài vật nhỏ và lớn. 26 Tại đó tàu thuyền đi qua lại, Cũng có lê-vi-a-than mà Chúa đã nắn nên đặng giỡn chơi nơi đó. 27 Hết thảy loài vật nầy trông đợi Chúa, Hầu cho Chúa ban đồ ăn cho chúng nó theo giờ. 28 Chúa ban cho chúng nó, chúng nó nhận lấy; Chúa sè tay ra, chúng nó được no nê vật tốt. 29 Chúa giấu mặt, chúng nó bèn bối rối, Chúa lấy hơi thở chúng nó lại, chúng nó bèn tắt chết, và trở về bụi đất. 30 Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên; Chúa làm cho mặt đất ra mới".

1/ Hệ thống nước kỳ diệu của Đức Chúa Trời đã bắt đầu hoạt động (God's marvellous water system began operating).
(Thi 104:10-13) "10 Ngài khiến các suối phun ra trong trũng, Nó chảy giữa các núi. 11 Nhờ các suối ấy hết thảy loài thú đồng được uống; Các lừa rừng giải khát tại đó. 12 Chim trời đều ở bên các suối ấy, Trổi tiếng nó giữa nhánh cây 13 Từ phòng cao mình, Ngài tưới các núi; Đất được đầy dẫy bông trái về công việc Ngài".
* Các suối bắt đầu bơm nước lên dư dật (pumping out water in abundance). Nó chảy xuống các thung lũng và các vùng đất thấp (downhill to the valley and lowlands).
* Để nhờ đó các loài thú rừng hoang dã (the wild animals) được thỏa cơn khát (quenching their thirst) trong các dòng suối, các sông, hoặc các hồ.
* Các chim muông (the birds) cũng tìm được nơi làm tổ (nesting places) trên các cây mọc bên các dòng nước.
* Trái đất được thỏa mãn và kết quả (the earth is satisfied) nhờ chương trình thủy lợi của Đức Chúa Trời (God's irrigation program).

2/ Đức Chúa Trời tạo cây cỏ cho súc vật (grass grow for the cattle), và cây cối cho con người (plants for man).
(Thi 104:14-15) "14 Ngài làm cho cỏ đâm lên cho súc vật, Cây cối để dùng cho loài người, Và khiến thực vật sanh ra từ nơi đất. 15 Rượu nho, là vật khiến hứng chí loài người, Và dầu để dùng làm mặt mày sáng rỡ, Cùng bánh để thêm sức cho lòng loài người".
* Ngài cung cấp rau cỏ (vegetables) dư dật và đa dạng cho các loài súc vật (for the cattle), ngũ cốc cho con người (grains for man) vừa dùng để canh tác vừa để nuôi chính mình (for himself) và vừa là để làm thức ăn cho gia súc (for his livestock).
* Bằng phép lạ tuy chậm và âm thầm (slow and silent miracle), thực phẩm sinh ra từ đất: Nước ép từ trái nho (the justice of grapes) được dùng để chế biến thành rượu (wine) và con người được vui vẻ (cheered) khi uống rượu ấy. Cây ô li ve (the olives) sanh ra dầu (oil) với rất nhiều công dụng, vừa giúp cho sức khỏe vừa ngon miệng.
* Từ ngũ cốc người ta làm ra bánh mì (bread) là thực phẩm thiết yếu (the staff of life) để con người có sức mạnh mà lao động.

3/ Các chu kỳ có trật tự của đời sống trên đất, được chi phối bởi mặt trăng và mặt trời(the orderly cycles of life on earth, governed by the moon and sun)
(Thi 104:19-23) "19 Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thì tiết; Mặt trời biết giờ lặn. 20 Chúa làm sự tối tăm, và đêm bèn đến; Khi ấy các thú rừng đi ra; 21 Những sư tử tơ gầm hét về miếng mồi, Và cầu xin Đức Chúa Trời đồ ăn chúng nó. 22 Mặt trời mọc lên, chúng nó bèn rút về, Nằm trong hang chúng nó. 23 Bấy giờ loài người đi ra, đến công việc mình, Và làm cho đến chiều tối".
* Bởi vì sự sống chuyển động trong những chu kỳ (in cycles) và theo thời khoá biểu (on schedule), nên phải có cách để loài người đo lường thời gian. Đức Chúa Trời đã đặt mặt trăng để đánh dấu các tháng, và mặt trời để đánh dấu sự bắt đầu và sự kết thúc của một ngày.
* Sự luân phiên đều đặn của ngày và đêm (the regular alternation of day and night) là thích hợp cho các loài thú vật cùng con người: Khi bóng đêm buông xuống (the cover darkness), các thú rừng (the beasts of the forest) đi ra để săn mồi; buổi sáng đến, chúng lại lui về hang của chúng (their dens); khi ấy con người lại đi ra làm việc của mình (man goes off to his work).

4/ Sự đa dạng của công việc Chúa thật đáng kinh ngạc (the variety of God's works is staggering).
(Thi 104:24) "Hỡi Đức Giê-hô-va, công việc Ngài nhiều biết bao! Ngài đã làm hết thảy cách khôn ngoan; Trái đất đầy dẫy tài sản Ngài".
* Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đã tạo kiểu mẫu cho hết thảy .
* Trái dấy đầy dẫy các tạo vật của Đức Chúa Trời, và Ngài chăm sóc mỗi một cá thể bằng sự chú ý kỳ diệu đến từng chi tiết (He cares for each one with amazing attention to detail).

5/ Loài người và mọi loài được tồn tại là nhờ Đức Chúa Trời.
(Thi 104:27-29) "Hết thảy loài vật nầy trông đợi Chúa, Hầu cho Chúa ban đồ ăn cho chúng nó theo giờ. 28 Chúa ban cho chúng nó, chúng nó nhận lấy; Chúa sè tay ra, chúng nó được no nê vật tốt. 29 Chúa giấu mặt, chúng nó bèn bối rối, Chúa lấy hơi thở chúng nó lại, chúng nó bèn tắt chết, và trở về bụi đất".
* Đức Chúa Trời cung ứng sự sống, nước, lương thực, nhà ở cho con người cùng muông thú, Ngài trông nom và chăm sóc tạo vật của Ngài.
* Dầu có lẽ mọi sinh vật nhìn không biết (not be conscious of it), nhưng hết thảy đều nương nhờ (depend) Đức Chúa Trời để có lương thực. Khi Ngài chu cấp (supply), thì chúng được no nê (all creatures are filled).

6/ Tất cả mọi vật trong vũ trụ đều là tặng phẩm của Đức Chúa Trời, Ngài ban cho để cho loài người hưởng dụng (God's gift to us to enjoy).
(I Tim 6:17) "Hãy răn bảo kẻ giàu ở thế gian nầy đừng kiêu ngạo và đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng".

III/ VŨ TRỤ LÀ MỘT NƠI CỦA SỰ VUI VẺ (it is a place of gladness).
(Thi 104:31-35) "31 Nguyện sự vinh hiển Đức Giê-hô-va còn đến mãi mãi; Nguyện Đức Giê-hô-va vui vẻ về công việc Ngài. 32 Ngài nhìn đất, đất bèn rúng động; Ngài rờ đến núi, núi bèn lên khói. 33 Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy. 34 Nguyện sự suy gẫm tôi đẹp lòng Ngài; Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va. 35 Nguyện tội nhân bị diệt mất khỏi đất, Và kẻ ác chẳng còn nữa. Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!".

1/ Vui vẻ שָׂמַח [samach] (rejoice): Vui thích, vui mừng, hân hoan, hoan hỉ.
(Thi 104:31b) "Nguyện Đức Giê-hô-va vui vẻ về công việc Ngài".
(Thi 104:34b) "Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va".
(a) Hy bá lai (Hebrew) שָׂמַח [samach]: Tràn ngập niềm vui, sung sướng.
(b) (Latin) "gaudium / gaudère": Vui sướng, rất yên tâm, rất hài lòng.
* Cảm thấy rất vui mừng (feel great joy).
(c) (Greek) ἀγαλλιάω [agalliaō] Rất vui mừng. Gồm:
* Tiền tố (pref.) ἀγαν [agan] (much): Rất nhiều.
* Động từ (verb) ἅλλομαι [allomai] (rejoice): Hân hoan, mừng rỡ.
(Thi 97:1) "Đức Giê-hô-va cai trị: đất hãy mừng rỡ; Các cù lao vô số khá vui vẻ".
(Thi 97:8) "Hỡi Đức Giê-hô-va, Si-ôn nghe, bèn vui vẻ, Và các con gái Giu-đa đều nức lòng mừng rỡ, Vì cớ sự đoán xét của Ngài".
(Thi 97:11-12) "11 Ánh sáng được bủa ra cho người công bình, Và sự vui vẻ cho người có lòng ngay thẳng. 12 Hỡi người công bình, hãy vui mừng nơi Đức Giê-hô-va, Cảm tạ sự kỷ niệm thánh của Ngài".

2/ Đức Chúa Trời vui vẻ về hành động sáng tạo (rejoices over creation).
(Thi 104:31) "Nguyện sự vinh hiển Đức Giê-hô-va còn đến mãi mãi; Nguyện Đức Giê-hô-va vui vẻ về công việc Ngài".
* Tác giả Thi thiên 104 mở đầu với sự sáng tạo (the original creation) và bây giờ ông kết thúc Thi thiên bằng một lời cầu nguyện rất tha thiết, ông mong đợi những cảnh tàn phá của tội lỗi sẽ bị dập tắt (the ravages of sin will be suppressed) và Đức Chúa Trời được tôn trọng và vinh hiển (and when the Lord will honored and glorified) vì sự vĩ đại và thiện lành của Ngài.
* Tác giả Thi thiên khao khát thấy được thời đại hoàng kim (the golden age), thời đại mà sự vinh hiển của Đức Chúa Trời còn đến mãi mãi ((His glory will endure forever) và nguyện Ngài sẽ vui vẻ về công việc Ngài (He will rejoice in His works).

3/ Chúng ta phải vui vẻ trong Đức Chúa Trời (we should be glad in the Lord).
(Thi 104:33-34) "33 Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Hễ tôi còn chừng nào,tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy 34 Nguyện sự suy gẫm tôi đẹp lòng Ngài; Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va".
* Tác giả Thi thiên 104 quyết tâm hễ ông còn sống chừng nào thì ông sẽ còn hát ca ngợi những công việc xuất sắc kỳ diệu của Đức Chúa Trời mình (the excellencies of God) chừng nấy.
* Tác giả cũng cầu nguyện để sự suy gẫm của mình được đẹp lòng Đức Chúa Trời (his meditation might be sweet to the Lord) là Đấng mà ông tìm được nơi Ngài niềm vui thật (true joy).
(Thi 9:1-2) "1 Tôi sẽ hết lòng cảm tạ Đức Giê-hô-va, Tỏ ra các công việc lạ lùng của Ngài. 2 Hỡi Đấng chí cao, tôi sẽ vui vẻ, hớn hở nơi Ngài, Và ca tụng danh của Ngài".

KẾT LUẬN.

1/ Tạo vật là cửa sổ qua đó chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Trời (creation is a window through which we see God), chứ không phải một tấm gương trong đó chúng ta nhìn thấy chính mình (not a mirror in which we see ourselves); chúng ta càng thấy Đức Chúa Trời, chúng ta càng hạnh phúc hơn (the more we see Him, the happier we should be). Chỉ có điều nầy sẽ làm cho chúng ta thành những người phục vụ tốt tạo vật của Đức Chúa Trời.
(Thi 8:1) "Hỡi Đức Giê-hô-va là Chúa chúng tôi, Danh Chúa được sang cả trên khắp trái đất biết bao; Sự oai nghi Chúa hiện ra trên các từng trời!".
(Thi 19:1) "1 Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm".
(Rô 1:19-20) "Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, 20 bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bản tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được".

2/ Tác giả Thi thiên 104 nói lên lý do Đức Chúa Trời xứng đáng được ngợi khen (God is worthy of praise!) đó là vì sự vĩ đại của Ngài và cũng vì Ngài là Đấng Tạo dựng (Maker) và là Đấng Bảo tồn (Sustainer) vũ trụ.
(Thi 102:1) "Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ kỳ. Mặc sự sang trọng và oai nghi!"
(Thi 102:35b) "Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!".

3/ Còn về phần chúng ta (as for ourselves), chúng ta có đồng hoà với tác giả trong câu tôn vinh chúc tụng cuối cùng của ông (in his final doxolory):
(Thi 104:35b) "Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!".