(Thi 103:1-22) "1 Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài! 2 Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, Chớ quên các ân huệ của Ngài. 3 Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, Chữa lành mọi bịnh tật ngươi, 4 Cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát, Lấy sự nhân từ và sự thương xót mà làm mão triều đội cho ngươi. 5 Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, Tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng-hoàng. 6 Đức Giê-hô-va thi hành sự công bình Và sự ngay thẳng cho mọi người bị hà hiếp. 7 Ngài bày tỏ cho Môi-se đường lối Ngài, Và cho Y-sơ-ra-ên biết các công việc Ngài. 8 Đức Giê-hô-va có lòng thương xót, hay làm ơn, Chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ. 9 Ngài không bắt tôi luôn luôn, Cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời. 10 Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi. 11 Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, Thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu. 12 Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, Thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu. 13 Đức Giê-hô-va thương xót kẻ kính sợ Ngài, Khác nào cha thương xót con cái mình vậy. 14 Vì Ngài biết chúng tôi nắn nên bởi giống gì, Ngài nhớ lại rằng chúng tôi bằng bụi đất. 15 Đời loài người như cây cỏ; Người sanh trưởng khác nào bông hoa nơi đồng; 16 Gió thổi trên bông hoa, kìa nó chẳng còn, Chỗ nó không còn nhìn biết nó nữa. 17 Song sự nhân từ Đức Giê-hô-va hằng có đời đời. Cho những người kính sợ Ngài, Và sự công bình Ngài dành cho chắt chít của họ. 18 Tức là cho người nào giữ giao ước Ngài, Và nhớ lại các giềng mối Ngài đặng làm theo. 19 Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật. 20 Hỡi các thiên sứ của Đức Giê-hô-va, Là các đấng có sức lực làm theo mạng lịnh Ngài, Hay vâng theo tiếng Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! 21 Hỡi cả cơ binh của Đức Giê-hô-va, Là tôi tớ Ngài làm theo ý chỉ Ngài, hãy ca tụng Đức Giê-hô-va! 22 Hỡi các công việc của Đức Giê-hô-va, Trong mọi nơi nước Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va!".

DẪN NHẬP.

1/ Một trong những nguyên nhân (one of the reasons) khiến chúng ta rất yêu mến Thi thiên 103 là vì nó nói lên điều mình thường cảm nhận nhưng không diễn tả nổi thành lời (they verbalized so beautifully what we often feel but cannot find words to express)... với ngữ điệu oai nghiêm của sự tạ ơn, chúng ta đọc được những cảm xúc phản chiếu chính những cảm xúc biết ơn sâu kín nhất của chính chúng ta (we read sentiments that mirror our own deepest emotions of gratitude).

2/ Thi Thiên 103 không hề có những lời cầu xin (makes no requests). Tất cả những điều Đa vít làm là ngợi khen Đức Chúa Trời vì ba phước lành tuyệt vời (three wonderful blessings). Ba phước lành ấy ông đã đề cập trong các câu 3 đến 5; và giải thích trong các câu còn lại.

I/ SỰ THA TỘI (forgiveness): Sự tha thứ, sự thứ tội.

(Thi 103:3, 10-14) "3 Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, Chữa lành mọi bịnh tật ngươi... 10 Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi. 11 Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, Thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu. 12 Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, Thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu. 13 Đức Giê-hô-va thương xót kẻ kính sợ Ngài, Khác nào cha thương xót con cái mình vậy. 14 Vì Ngài biết chúng tôi nắn nên bởi giống gì, Ngài nhớ lại rằng chúng tôi bằng bụi đất".

1/ Mở đầu Thi Thiên 103, Đa vít kêu gọi chính linh hồn chúng ta hãy ngợi khen Đức Giê Hô va (103:1-2); chữ linh hồn ở đây không có ý nói đến những phần phi vật chất của bản chất chúng ta (non-material part of our nature) mà là toàn thể con người chúng ta (the entire person) bao gồm cả: Linh (spirit), hồn (soul) và thân thể (body) cùng hát ngợi khen danh thánh của Đức Giê Hô Va (to bless the holy name of Jehovah).
Điều trên hết chúng ta phải ngợi khen Đức Giê Hô Va vì Ngài đã tha thứ mọi sự gian ác của chúng ta (for forgiving all our iniquities).
Thật là phép lạ của ân điển thiên thượng không thể tả nổi (an unspeakable miracle of divine grace) để khiến tội lỗi của chúng ta dầu đỏ như hồng điều có thể được trắng hơn tuyết (crimson sins can be made white than snow) nhờ dòng huyết của Đức Chúa Giê su. Điều nầy thật quá kỳ diệu cho chúng ta (it is just too much to take in).

2/ Tha tội סָלַח [calach] (forgive): Tha thứ, thứ tội, miễn nợ.
(Thi 103:3a) "Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi".
* Hành động của sự tha thứ (the act of forgiving ).
* Tình trạng sự được tha tha thứ (the state of being forgiven).
* Thôi không giận dữ hoặc phẫn nộ với một ai/ điều gì (cease to feel angry or resentful towards).
* Tha thứ hoặc tha lỗi cho ai về một sự xúc phạm (forgive or excuse a person for an offence etc.).
* Kiềm chế không làm bị thương, làm hại hay giết chết (abstain from killing, hurting, wounding, etc.).
(Sáng 50:17) "Hãy nói lại cho Giô-sép như vầy: Ôi! xin hãy tha điều ác, tội phạm của các anh con đi, vì chúng nó đã lỗi cùng con đó; nhưng bây giờ cha xin con hãy tha tội kẻ tôi tớ của Đức Chúa Trời cha. Nghe qua mấy lời nầy, Giô-sép bèn khóc".
(Xuất 32:32) "nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Bằng không, hãy xóa tên tôi khỏi sách Ngài đã chép đi".
(Thi 79:9) "Hỡi Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi chúng tôi, vì vinh hiển của danh Chúa, xin hãy giúp đỡ chúng tôi; Nhân danh Chúa, xin hãy giải cứu chúng tôi, và tha tội cho chúng tôi".
(1) Latin "perdonare": Tha thứ (pardon).
* Xoá bỏ hoặc không bắt phải trả một món nợ, hình phạt... (cancel or refrain from exacting or inflicting a debt or punishment etc.).
* Hành động hủy bỏ hình phạt (the act of excusing). Gồm:
(a) Tiền tố (pref.) "per": Một cách hoàn toàn (completely).
(b) Động từ (verb) "donate": Ban cho, biếu tặng (give).
(2) Hy lạp (Greek) ἀφίημι [aphiēmi] (forgive): Tha tội, tha nợ. Gồm:
(a) Tiền tố (pref.) απο [apo]: Ra khỏi, cách xa, mất đi (forth / away).
(b) Động từ (verb) ιημι [hieemi]: Điều động, đuổi, tống khứ, sai phái (to send)
(c) Động từ ἀφίημι [aphiēmi] (forgive / remit): Tội / nợ (sins / debts) được hủy bỏ hoàn toàn (being completely cancelled).
(Mat 6:12) "Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi".
(Mat 18:27) "Chủ bèn động lòng thương xót, thả người về, và tha nợ cho".
(Êp 4:32) "Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy".
(I Giăng 1:9) "Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác".

3/ Sự tha tội giống như sự chữa lành khi bạn רָפָא [rapha'] (heal) bị bịnh (like healing when you are sick / disease).
(Thi 103:3) "Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, Chữa lành mọi bịnh tật ngươi".
(I Phi 2:23) "Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề hăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình; Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh".
(1) Sự chữa lành mọi bịnh tật (heals all your diseases) cũng là một ân huệ khiến chúng ta phải ngợi khen Chúa vì một trong những danh xưng của Chúa là Đức Giê Hô Va Đấng chữa lành יְהֹוָה [Yĕhovah] רָפָא [rapha'] Giê Hô Va Rô Pha (Jehovah Rophi).
(Xuất 15:26) "Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, làm sự ngay thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe các điều răn và giữ mọi luật lệ Ngài, thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bịnh nào mà ta đã giáng cho xứ Ê-díp-tô; vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho ngươi".
(2) Tuy nhiên, trong kinh nghiệm thực tiễn, chúng ta biết rằng không phải hết thảy mọi tật bịnh đều được chữa lành (not all diseases are healed), và sớm hay muộn gì rồi chúng ta cũng sẽ chết nếu như Đức Chúa Giê su chưa tái lâm trong khi chúng ta đang chờ đợi. Nhưng trong thời kỳ Thiên hy niên (the Millennium) Đức Chúa Trời thật sự sẽ chữa lành tất cả mọi bịnh tật (God will actually heal all disease).
(Ê sai 33:24) "Dân cư sẽ không nói rằng: Tôi đau. Kẻ ở trong nó sẽ được tha tội".
(Giê 30:17) "Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ chữa lành thân thể ngươi, và chữa vết thương ngươi, vì chúng nó đã gọi ngươi là kẻ bị bỏ, mà rằng: Ấy là Si-ôn, chẳng ai ngó ngàng đến!".

4/ Sự tha tội giống như sự giảm nhẹ khi bạn mang gánh nặng (relief when you are burdened).
(Thi 103:11-12) "11 Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, Thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu. 12 Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, Thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu".
(Lê 16:20-22) "20 Khi thầy tế lễ đã làm lễ chuộc tội cho nơi thánh, cho hội mạc, và cho bàn thờ rồi, thì người phải dâng con dê đực còn sống kia. 21 A-rôn sẽ nhận hai tay mình trên đầu con dê đực còn sống, xưng trên nó các gian ác và sự vi phạm, tức những tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên, và chất trên đầu nó, rồi nhờ một người chực sẵn việc nầy mà sai đuổi nó ra, thả vào đồng vắng. 22 Vậy, con dê đực đó sẽ gánh trên mình các tội ác của dân Y-sơ-ra-ên ra nơi hoang địa".
(Giăng 1:29) "Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi".

5/ Sự tha tội giống như sự giảng hoà khi bạn làm đau lòng người khác (like reconciliation when you have hurt someone).
(Thi 103:13-14) "13 Đức Giê-hô-va thương xót kẻ kính sợ Ngài, Khác nào cha thương xót con cái mình vậy. 14 Vì Ngài biết chúng tôi nắn nên bởi giống gì, Ngài nhớ lại rằng chúng tôi bằng bụi đất".

6/ Tất cả những phước lành trên có được nhờ Đức Chúa Giê su đã chết trên Thập tự giá vì cớ tội lỗi của chúng ta (Jesus died for our sins on the cross) và nhờ đức tin của chúng ta nơi Ngài (we have trusted Him).

II/ SỰ CỨU CHUỘC (redemption):

(Thi 103:4,6-9) "4 Cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát, Lấy sự nhân từ và sự thương xót mà làm mão triều đội cho ngươi... 6 Đức Giê-hô-va thi hành sự công bình Và sự ngay thẳng cho mọi người bị hà hiếp. 7 Ngài bày tỏ cho Môi-se đường lối Ngài, Và cho Y-sơ-ra-ên biết các công việc Ngài. 8 Đức Giê-hô-va có lòng thương xót, hay làm ơn, Chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ. 9 Ngài không bắt tôi luôn luôn, Cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời".

1/ Cứu chuộc גָּאַל [ga'al] (redeem / deliver / avenge): Chuộc, chuộc lại.
(Thi 103:4) "Cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát".
* Mua lại cái gì bằng số tiền người ta đòi (recover by a stipulated payment).
* Giúp cho ai được tự do, đặc biệt bằng cách trả tiền (purchase the freedom of a person).
* Đấng Christ giải thoát ai khỏi tội và sự định tội (Christ deliver from sin and damnation).
(1) Latin "redimere redempt-": Chuộc lại (buy back). Gồm:
(a) Tiền tố (pref.) "re": Trở lai (back).
(b) Động từ (verb) "emere": Mua (buy).
(Xuất 6:6) "Vậy nên, ngươi hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ta là Đức Giê-hô-va sẽ rút các ngươi khỏi gánh nặng mà người Ê-díp-tô đã gán cho, cùng giải thoát khỏi vòng tôi mọi; ta sẽ giơ thẳng tay ra, dùng sự đoán phạt nặng mà chuộc các ngươi".
(Lê 25:49) "hoặc bác chú, hoặc con của bác chú; hoặc một người thân thích cũng được chuộc người lại; hay là nếu người có thế, thì chính người phải chuộc mình lấy".
(Thi 130:7-8) "7 Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trông cậy nơi Đức Giê-hô-va; Vì Đức Giê-hô-va có lòng nhân từ, Nơi Ngài có sự cứu rỗi nhiều; 8 Chính Ngài sẽ chuộc Y-sơ-ra-ên Khỏi các sự gian ác người".
(2) Hy lạp (Greek) ἐξαγοράζω [exagorazō] (redeem): Chuộc. Gồm:
(a) Tiền tố (pref.) ἐξ [ex / ek]: Ra khỏi, ở ngoài (out).
(b) Động từ (verb) αγοράζω [agorazō]: Mua (buy).
(Ga 3:13) "Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ".
(Ga 4:4-5) "Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp, 5 để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài".

2/ Đức Chúa Trời không những tha thứ mọi tội ác (for give all your sins), chữa lành mọi bịnh tật (heals all your diseases), mà Ngài còn cứu chuộc mạng sống chúng ta khỏi vực sâu שַׁחַת [shachath] hay chốn hư nát (redeems our lives from the pit or destruction).
* Ngài cứu chúng ta khỏi vực sâu hay chốn hư nát ở đây có nghĩa là Ngài cứu chúng ta khỏi bị đi vào địa ngục (going down to hell).
* Tuy nhiên, nó còn có nghĩa là Ngài liên tục giải cứu chúng ta khỏi những nguy hiểm, những tai nạn, những thảm kịch (He continually delivers us from dangers, accidents, tragedies) và bởi đó Ngài đã cứu chúng ta khỏi xuống nơi mồ mả (going down to the grave).
* Chỉ khi nào chúng ta vào Thiên đàng, chúng ta mới nhận thấy rằng mình đã được Đức Chúa Trời bảo vệ thường xuyên đến mức nào (we realize how often we were protected by God).

3/ Trong một ý nghĩa khác: Đức Chúa Trời đã cứu quốc gia Y sơ ra ên khỏi cảnh nô lệ (from bondage) và khỏi những khó khăn (from diferences) mà họ đã phải đối mặt trong cuộc hành trình đến đất hứa Ca na an (faced on their journey to Canaan).

4/ Đức Chúa Giê su giải thoát chúng ta (free us) để Ngài sẽ là Chủ của chúng ta (our Master) và để Ngài chăm sóc chúng ta đời đời (care for us forever).
Khi Đức Chúa Giê su đội mão triều cho chúng ta (crowns us). Ngài biến đổi chúng ta từ những người nô lệ trở thành những vị vua (transforms slaves into kings). Ân điển Ngài thật lớn lao thay!
(Rô 5:17) "Vả, nếu bởi tội một người mà sự chết đã cai trị bởi một người ấy, thì huống chi những kẻ nhận ân điển và sự ban cho của sự công bình cách dư dật, họ sẽ nhờ một mình Đức Chúa Jêsus Christ mà cai trị trong sự sống là dường nào!".

III/ SỰ THOẢ LÒNG (satisfaction):
(Thi 103:5,15-18) "5 Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, Tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng-hoàng... 15 Đời loài người như cây cỏ; Người sanh trưởng khác nào bông hoa nơi đồng; 16 Gió thổi trên bông hoa, kìa nó chẳng còn, Chỗ nó không còn nhìn biết nó nữa. 17 Song sự nhân từ Đức Giê-hô-va hằng có đời đời. Cho những người kính sợ Ngài, Và sự công bình Ngài dành cho chắt chít của họ. 18 Tức là cho người nào giữ giao ước Ngài, Và nhớ lại các giềng mối Ngài đặng làm theo. 19 Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật. 20 Hỡi các thiên sứ của Đức Giê-hô-va, Là các đấng có sức lực làm theo mạng lịnh Ngài, Hay vâng theo tiếng Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! 21 Hỡi cả cơ binh của Đức Giê-hô-va, Là tôi tớ Ngài làm theo ý chỉ Ngài, hãy ca tụng Đức Giê-hô-va! 22 Hỡi các công việc của Đức Giê-hô-va, Trong mọi nơi nước Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va!".

1/ Thỏa lòng שָׂבַע [saba`] (satisfy): Thoả mãn, hài lòng, no nê, dư dật.
(Thi 103:5) "Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, Tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng-hoàng".
* Đem lại cho ai cái gì họ muốn, yêu cầu hoặc cần (meet the expectations or desires of).
* Làm theo yêu cầu (comply with a demand).
(Xuất 16:8) "Môi-se nói: Chiều nầy Đức Giê-hô-va sẽ phát thịt cho các ngươi ăn, rồi sáng mai bánh nhiều dư dật, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Thế thì, chúng ta là ai? Những lời oán trách chẳng phải đổ về chúng ta đâu, nhưng về Đức Giê-hô-va vậy".
(Thi 90:14) "Ôi! xin Chúa cho chúng tôi buổi sáng được thỏa dạ về sự nhân từ Chúa, Thì trọn đời chúng tôi sẽ hát mừng vui vẻ".
(Thi 104:28) "Chúa ban cho chúng nó, chúng nó nhận lấy; Chúa sè tay ra, chúng nó được no nê vật tốt".
(1) Latin "satisfacere satisfact-": Thoả lòng, do tính từ "satis": Đủ (enough).
(2) Hy lạp (Greek) : χορτάζω [chortazō] (satisfy): No nê (to fill with food).
(Mat 5:6) "Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!".
(Mác 8:4) "Môn đồ thưa rằng: Có thể kiếm bánh đâu được trong đồng vắng nầy cho chúng ăn no ư?".
(Phil 4:11-12) "11 Không phải là tôi muốn nói đến sự cần dùng của tôi; vì tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy. 12 Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được".

2/ Tuy con người thì mong manh và tạm thời (frail and temporary), nhưng những Cơ Đốc nhân thì vẫn được vui hưởng tuổi trẻ đời đời và sự đổi mới thuộc linh (eternal youth and spiritual renewal).
Đa vít đã so sánh đời sống của Cơ Đốc nhân như chim ưng (the eagle); tuy tuổi già nhưng vẫn còn có sức để bay cao (looks old but still soars upward) nhờ sức mạnh mới (with new strength).
(Thi 103:5) "Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, Tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng-hoàng".
(Ê sai 40:31) "Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi".

KẾT LUẬN:

1/ Thi thiên 103 là một bài thánh ca ngợi khen về tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời (God's love and compassion) đối với dân sự của Ngài bao gồm:
(1) Sự tha tội (forgiveness).
(2) Sự cứu chuộc (redemption).
(3) Sự thoả lòng (satisfaction).

2/ Là dân sự của Đức Chúa Trời, chúng ta:
(1) Chớ quên các ân huệ của Chúa.
(2) Nhưng phải hết lòng "ngợi khen Ngài".

3/ Bạn đã thuộc về vị Vua đang cai trị trên mọi sự (rules over everything).
(Thi 103:19) "Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật".
(1) Các Thiên sứ ngợi khen Ngài (the Angels praise Him).
(Thi 103:20-22) "20 Hỡi các thiên sứ của Đức Giê-hô-va, Là các đấng có sức lực làm theo mạng lịnh Ngài, Hay vâng theo tiếng Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! 21 Hỡi cả cơ binh của Đức Giê-hô-va, Là tôi tớ Ngài làm theo ý chỉ Ngài, hãy ca tụng Đức Giê-hô-va! 22 Hỡi các công việc của Đức Giê-hô-va, Trong mọi nơi nước Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va!".
(2) Vậy tại sao bạn không hiệp cùng các Thiên sứ thờ phượng Đức Chúa Trời? (so why not join in their worship).