(Thi 102:1-28) "1 Hỡi Đức Giê-hô-va, xin nghe lời cầu nguyện tôi, Nguyện tiếng tôi thấu đến Ngài. 2 Trong ngày gian truân, xin chớ giấu mặt Ngài cùng tôi; Xin hãy nghiêng tai qua nghe tôi; Trong ngày tôi kêu cầu, xin mau mau đáp lại tôi. 3 Vì các ngày tôi tan như khói, Xương cốt tôi cháy đốt như than lửa. 4 Lòng tôi bị đánh đập, khô héo như cỏ, Vì tôi quên ăn. 5 Vì cớ tiếng than siếc của tôi, Xương cốt tôi sát vào thịt tôi. 6 Tôi trở giống như con chàng bè nơi rừng vắng, Khác nào chim mèo ở chốn bỏ hoang. 7 Tôi thao thức, tôi giống như Chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà. 8 Hằng ngày kẻ thù nghịch sỉ nhục tôi; Kẻ nổi giận hoảng tôi rủa sả tôi. 9 Nhân vì sự nóng nả và cơn thạnh nộ của Chúa, Tôi đã ăn bụi tro khác nào ăn bánh, 10 Và lấy giọt lệ pha lộn đồ uống tôi; Vì Chúa có nâng tôi lên cao, rồi quăng tôi xuống thấp. 11 Các ngày tôi như bóng ngã dài ra, Tôi khô héo khác nào cỏ. 12 Nhưng, Đức Giê-hô-va ơi, Ngài hằng có mãi mãi, Kỷ niệm Ngài lưu từ đời nầy sang đời kia. 13 Chúa sẽ chổi dậy lấy lòng thương xót Si-ôn; Nầy là kỳ làm ơn cho Si-ôn, Vì thì giờ định đã đến rồi. 14 Các tôi tớ Chúa yêu chuộng đá Si-ôn, Và có lòng thương xót bụi đất nó. 15 Bấy giờ muôn dân sẽ sợ danh Đức Giê-hô-va, Và hết thảy vua thế gian sẽ sợ sự vinh hiển Ngài. 16 Khi Đức Giê-hô-va lập lại Si-ôn, Thì Ngài sẽ hiện ra trong sự vinh hiển Ngài. 17 Ngài sẽ nghe lời cầu nguyện của kẻ khốn cùng, Chẳng khinh dể lời nài xin của họ. 18 Điều đó sẽ ghi để cho đời tương lai, Một dân sự được dựng nên về sau sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va; 19 Vì từ nơi thánh cao Ngài đã ngó xuống, Từ trên trời Ngài xem xét thế gian, 20 Đặng nghe tiếng rên siếc của kẻ bị tù, Và giải phóng cho người bị định phải chết; 21 Hầu cho người ta truyền ra danh Đức Giê-hô-va trong Si-ôn, Và ngợi khen Ngài tại Giê-ru-sa-lem, 22 Trong lúc muôn dân nhóm lại Với các nước, đặng hầu việc Đức Giê-hô-va. 23 Ngài đã làm sức lực tôi ra yếu giữa đường, Khiến các ngày tôi ra vắn. 24 Tôi tâu rằng: Đức Chúa Trời tôi ôi! các năm Chúa còn đến muôn đời, Xin chớ cất lấy tôi giữa chừng số các ngày tôi. 25 Thuở xưa Chúa lập nền trái đất, Các từng trời là công việc của tay Chúa. 26 Trời đất sẽ bị hư hoại, song Chúa hằng còn; Trời đất sẽ cũ mòn hết như áo xống; Chúa sẽ đổi trời đất như cái áo, và nó bị biến thay; 27 Song Chúa không hề biến cải, Các năm Chúa không hề cùng. 28 Con cháu tôi tớ Chúa sẽ còn có, Dòng dõi họ sẽ được lập vững trước mặt Chúa".

DẪN NHẬP.

Việc Đức Chúa Trời không đáp lời cầu nguyện (God's unresponsiveness) cộng với nỗi thống khổ (anguish) cùng những sự đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn cách cô đơn (lonely suffering) đã tạo thành nền tảng cho nội dung Thi thiên 102 nầy (Thi 102:1-7; 9-10).
* Tác giả Thi thiên 102 cảm thấy rằng các cuộc chiến đấu của ông với cuộc sống là vô vọng (hopeless).
(Thi 102:8) "Hằng ngày kẻ thù nghịch sỉ nhục tôi; Kẻ nổi giận hoảng tôi rủa sả tôi".
(Thi 102:11) "Các ngày tôi như bóng ngã dài ra, Tôi khô héo khác nào cỏ".
* Đời sống vốn dĩ đã ngắn (life is short) mà dường như Đức Chúa Trời lại làm cho nó càng ngắn hơn (God seems to be shortening it even more).
(Thi 102:23) "Ngài đã làm sức lực tôi ra yếu giữa đường, Khiến các ngày tôi ra vắn".
* Trên căn bản của tính bất diệt của Đức Chúa Trời (His eternality) và tính tạm thời của tạo vật (creation's temporality).
(Thi 102:24-28) "24 Tôi tâu rằng: Đức Chúa Trời tôi ôi! các năm Chúa còn đến muôn đời, Xin chớ cất lấy tôi giữa chừng số các ngày tôi. 25 Thuở xưa Chúa lập nền trái đất, Các từng trời là công việc của tay Chúa. 26 Trời đất sẽ bị hư hoại, song Chúa hằng còn; Trời đất sẽ cũ mòn hết như áo xống; Chúa sẽ đổi trời đất như cái áo, và nó bị biến thay; 27 Song Chúa không hề biến cải, Các năm Chúa không hề cùng. 28 Con cháu tôi tớ Chúa sẽ còn có, Dòng dõi họ sẽ được lập vững trước mặt Chúa".
* Tác giả Thi thiên 102 hy vọng rằng những thế hệ của tương lai (the future generations) sẽ có thể ngợi khen Đức Chúa Trời vì Ngài bày tỏ sự nhơn từ của Ngài đối với ông.
(Thi 102:18-22) "18 Điều đó sẽ ghi để cho đời tương lai, Một dân sự được dựng nên về sau sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va; 19 Vì từ nơi thánh cao Ngài đã ngó xuống, Từ trên trời Ngài xem xét thế gian, 20 Đặng nghe tiếng rên siếc của kẻ bị tù, Và giải phóng cho người bị định phải chết; 21 Hầu cho người ta truyền ra danh Đức Giê-hô-va trong Si-ôn, Và ngợi khen Ngài tại Giê-ru-sa-lem, 22 Trong lúc muôn dân nhóm lại Với các nước, đặng hầu việc Đức Giê-hô-va".

I/ ĐỨC CHÚA TRỜI HƯỞNG NHỮNG NĂM DÀI MUÔN ĐỜI, NHƯNG CHÚNG TA CHỊU ĐỰNG NHỮNG NGÀY NGẮN NGỦI (God enjoys endless years, but we endure shortened days).
(Thi 102:23-24) "23 Ngài đã làm sức lực tôi ra yếu giữa đường, Khiến các ngày tôi ra vắn. 24 Tôi tâu rằng: Đức Chúa Trời tôi ôi! các năm Chúa còn đến muôn đời, Xin chớ cất lấy tôi giữa chừng số các ngày tôi".

1/ Muôn đời דּוֹר [dowr] (generations / evermore / always ): Nhiều thế hệ, đời đời, mãi mãi, luôn luôn.
(Thi 102:24) "Tôi tâu rằng: Đức Chúa Trời tôi ôi! các năm Chúa còn đến muôn đời".
(1) Đời דּוֹר [dowr] (generation): Thế hệ, thời, thời kỳ, giai đoạn, thời gian, chu kỳ, dòng dõi.
* Độ dài hoặc một phần của thời gian (a length or portion of time).
* Tất cả những người được sinh ra gần như vào cùng một thời điểm (all the people born at a particular time).
* Một khoảng thời gian trung bình thường được coi là 25 đến 30 năm trong đó trẻ em lớn lên để trở thành người lớn thật sự (the average time in which children are ready to take the place of their parents usu. reckoned at about 25-30 years).
* Một giai đoạn trong lịch sử của một gia đình (a single step in descent or pedigree).
(Phục 1:35) "Chẳng một ai của dòng dõi gian ác nầy sẽ thấy xứ tốt đẹp mà ta đã thề ban cho tổ phụ các ngươi".
(Thi 90:1) "Lạy Chúa, từ đời nầy qua đời kia Chúa là nơi ở của chúng tội".
(Thi 100:5) "Vì Đức Giê-hô-va là thiện; sự nhân từ Ngài hằng có mãi mãi, Và sự thành tín Ngài còn đến đời đời".
(Ha 1:12) "Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Đấng Thánh của tôi! Ngài há chẳng phải là từ đời đời vô cùng sao? Vậy chúng tôi sẽ không chết! Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã lập dân nầy đặng làm sự xét đoán của Ngài. Hỡi vầng Đá! Ngài đã đặt nó đặng làm sự sửa phạt!".
(2) Latin "generatio -onis / generare": Tạo ra, sinh ra (generation /generate).
(3) Hy lạp (Greek) γενεά [genea] (generation / time): Thế hệ, thời, thời gian, dòng dõi, đời.
(Mác 8:12) "Đức Chúa Jêsus than thở trong lòng mà rằng: Làm sao dòng dõi nầy xin dấu lạ? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, họ chẳng được ban cho một dấu lạ nào".
(Êp 3:5) "là lẽ mầu nhiệm trong các đời khác, chưa từng phát lộ cho con cái loài người, mà bây giờ đã được Đức Thánh Linh tỏ ra cho các sứ đồ thánh và tiên tri của Ngài".
(Phil 2:15) "hầu cho anh em ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian".

2/ Vắn קָצַר [qatsar] (shortened / reap): Làm cho ngắn, cắt, gặt, thu hoạch.
(Thi 102:23) "Ngài đã làm sức lực tôi ra yếu giữa đường, Khiến các ngày tôi ra vắn".
* Trở nên hoặc làm cho cái gì ngắn hoặc ngắn hơn (become or make shorter or short).
* Gặt hái, thu hoạch, cắt (reap / harvest).
(Lê 19:9) "Khi các ngươi gặt lúa trong xứ mình, chớ có gặt đến cuối đầu đồng, và chớ mót lại những bông còn sót".
(Thi 126:5) "Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, Sẽ gặt hái cách vui mừng".
* Bị rút ngắn, bị ngắn đi, làm cho ngắn hơn.
(Thi 39:5) "Kìa, Chúa khiến ngày giờ tôi dài bằng bàn tay, Và đời tôi như không không trước mặt Chúa; Phải, mỗi người, dầu đứng vững, chỉ là hư không".
(Thi 89:5) "Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, Sẽ gặt hái cách vui mừng".
(Châm 10:27) "27 Sự kính sợ Đức Giê-hô-va gia thêm ngày tháng; Còn năm tuổi kẻ ác sẽ bị giảm bớt đi".
(Ê sai 50:2) "Cớ sao khi ta đến, chẳng thấy có người nào? Cớ sao khi ta gọi, chẳng có ai thưa lại? Tay ta há ngắn quá không chuộc được sao? hay là sức ta không đủ mà cứu được sao? Nầy, ta chỉ nạt một cái thì biển liền cạn. Ta biến sông thành đồng vắng; cá dưới sông vì khan nước phải chết khát, hóa ra hôi thối".
(Ê sai 59:1) "Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được; tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu".
(2) Latin "amputare": Cắt bỏ. Cắt bỏ một bộ phận của thân thể bằng phẩu thuật, thường là do bộ phận ấy bị thương tật hoặc vì bị bệnh (cut off a part of the body by surgical operation usu. because of injury or disease). Gồm:
(a) Tiền tố "amb": Khoảng chừng, xấp xỉ (about).
(b) Danh từ "putare": Chặt bớt, cắt bớt, giảm bớt, tỉa, xén bớt (prune).
(3) Hy lạp (Greek) κολοβόω [koloboō] (shortened / cut off / docked): Cắt bớt.
(Mat 24:22) "Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các ngươi được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt".
(Hê 12:15) "Khá coi chừng kẻo có kẻ trật phần ân điển của Đức Chúa Trời, kẻo rễ đắng châm ra, có thể ngăn trở và làm ô uế phần nhiều trong anh em chăng".

3/ Tuy nhiên, chỉ Đức Chúa Trời là sự trông cậy duy nhất của tác giả, do đó ông cầu nguyện xin lòng thương xót của Đức Chúa Trời.
(Thi 102:12-17) "12 Nhưng, Đức Giê-hô-va ơi, Ngài hằng có mãi mãi, Kỷ niệm Ngài lưu từ đời nầy sang đời kia. 13 Chúa sẽ chổi dậy lấy lòng thương xót Si-ôn; Nầy là kỳ làm ơn cho Si-ôn, Vì thì giờ định đã đến rồi. 14 Các tôi tớ Chúa yêu chuộng đá Si-ôn, Và có lòng thương xót bụi đất nó. 15 Bấy giờ muôn dân sẽ sợ danh Đức Giê-hô-va, Và hết thảy vua thế gian sẽ sợ sự vinh hiển Ngài. 16 Khi Đức Giê-hô-va lập lại Si-ôn, Thì Ngài sẽ hiện ra trong sự vinh hiển Ngài. 17 Ngài sẽ nghe lời cầu nguyện của kẻ khốn cùng, Chẳng khinh dể lời nài xin của họ".
(Thi 102:24) "Tôi tâu rằng: Đức Chúa Trời tôi ôi! các năm Chúa còn đến muôn đời, Xin chớ cất lấy tôi giữa chừng số các ngày tôi".

II/ Các ngày יוֹם [yowm] (days) của chúng ta tan biến giống như:
* Khói עָשָׁן [`ashan] (smoke).
* Cỏ עֵשֶׂב [`eseb] (grass).
* Bóng צֵל [tsel] (shadow).
(Thi 102:3-4) "3 Vì các ngày tôi tan như khói, Xương cốt tôi cháy đốt như than lửa. 4 Lòng tôi bị đánh đập, khô héo như cỏ, Vì tôi quên ăn".
(Thi 102:11) "Các ngày tôi như bóng ngã dài ra, Tôi khô héo khác nào cỏ".

1/ Tan כָּלָה [kalah] (consumed): Bị phân rã, tiêu đến hết.
(Thi 102:3a) "Vì các ngày tôi tan như khói".
(1) Hy ba lai (Hebrew) כָּלָה [kalah] (consumed): Tan.
(Thi 37:20) "Còn kẻ ác sẽ hư mất, Những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va sẽ như mỡ chiên con: Chúng nó phải đốt tiêu, tan đi như khói".
(2) Latin consumere: Bị phá hủy, bị tàn phá hoàn toàn (completely destroy). Gồm:
(a) Tiền tố (pref.) con (with): Tách rời khỏi, rời bỏ.
(b) Động từ (verb) sumere sumpt- (take up): Bốc hơi, nâng cao lên, rút ngắn.
(3) Hy lạp (Greek) ἀφανίζω [aphanizō] (vanish away): Biến mất. Gồm:
(a) Tiền tố (pref.) [α] (a) (negative): Không, không phải, phủ nhận
(b) Động từ (verb) φαίνω [phainô] (to cause to appear): Làm cho xuất hiện.
(c) Do đó, động từ ἀφανίζω [aphanizō] có các nghĩa:
* Biến mất hoàn toàn và đột ngột (disappear suddenly).
* Làm cho không thấy được (to render unseen).
* Thôi không tồn tại hoặc mất dần (cease to exist).
* Chết (fade away) hoặc chết một cách dần dần (die gradually).
(Gia 4:14) "song ngày mai sẽ ra thế nao, anh em chẳng biết! Vì sự sống của anh em là chi? Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay".

2/ Cháy חָרַר [charar] (burn): Đốt cháy, tiêu hủy.
(Thi 102:3b) "Xương cốt tôi cháy đốt như than lửa".
* Bị hoặc gây nên sự hư hại, hoặc bị tổn thương do lửa đốt (be or cause to be injured or damaged by fire).
(Gióp 30:30) "Da tôi thành đen và rơi ra khỏi mình, Xương cốt tôi bị nóng cháy đi".
(Thi 31:10) "Mạng sống tôi tiêu hao vì cớ buồn bực, Các năm tôi sút kém tại than thở; Vì cớ tội ác tôi, Sức mạnh tôi mỏn yếu, và xương cốt tôi tiêu tàn".
(Thi 32:3) "Khi tôi nín lặng, các xương cốt tôi tiêu-tàn, Và tôi rên siếc trọn ngày".
(Ca 1:13) "Ngài đã giáng lửa từ trên cao, vào xương cốt ta và thắng được. Ngài đã giăng lưới dưới chân ta, làm cho ta thối lui. Ngài đã làm cho ta nên đơn chiếc, hằng ngày bị hao mòn".
(1) Hy lạp (Greek) κατακαίω [katakaiō] (burn): Gồm.
(a) Tiền tố (pref.) κατα [kata] (up): Nổi lên.
(b) Động từ (verb) καίω [kaiō] (to set fire to): Đốt.
(Công 19:19) "Có lắm người trước theo nghề phù pháp đem sách vỡ mình đốt trước mặt thiên hạ; người ta tính giá sách đó, cọng là năm muôn đồng bạc".
(I Cô 3:15) "Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy".
(Hê 13:11) "Vả, huyết của con sinh bị thầy tế lễ thượng phẩm đem vào nơi thánh để làm lễ chuộc tội, còn thân thể nó thì đốt đi bên ngoài trại quân".

3/ Khô héo יָבֵשׁ [yabesh] (withered): Héo khô, héo tàn, sấy khô.
(Thi 102:4) "Lòng tôi bị đánh đập, khô héo như cỏ, Vì tôi quên ăn".
* Làm cho hoặc trở nên khô quăn lại (make or become dry and shrivelled)
(Thi 102:11) "Các ngày tôi như bóng ngã dài ra, Tôi khô héo khác nào cỏ".
(Thi 37:2) "Vì chẳng bao lâu chúng nó sẽ bị phát như cỏ, Và phải héo như cỏ tươi xanh".
(Ê sai 40:6-8) "6 Có tiếng kẻ rằng: Hãy kêu! Và có đáp rằng: Tôi sẽ kêu thế nào? Mọi xác thịt giống như cỏ, nhan sắc nó như hoa ngoài đồng. 7 Cỏ khô, hoa rụng, vì hơi Đức Giê-hô-va thổi qua. Phải, dân nầy khác nào cỏ ấy: 8 cỏ khô, hoa rụng; nhưng lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời!".
(1) Hy lạp (Greek) παρέρχομαι [parerchomai] (pass away): Qua đời, chết. Gồm:
(a) Tiền tố (pref.) παρά [para] (beyond / over): Vượt qua ngoài giới hạn.
(b) Động từ (verb) [έρχομαι] (come / pass): Đến, đi qua.
(c) Động từ παρέρχομαι [parerchomai] (pass away):
* Kết thúc sự hiện hữu (cease to exist).
* Đến giới hạn cuối cùng, kết thúc (come to an end).
(Gia 1:10) "kẻ giàu cũng hãy khoe mình về phần đê hèn, vì người sẽ qua đi như hoa cỏ".
(2) Lòng לֵב [leb] (heart) được kết hợp với xương cốt עֶצֶם [`etsem] (bones) trong Thi thiên 102:3-4 ám chỉ đến toàn thể con người bao gồm thân thể và tâm linh (the whole man: body and spirit).
(Thi 22:14) "Tôi bị đổ ra như nước, Các xương cốt tôi đều rời rã; Trái tim tôi như sáp, Tan ra trong mình tôi".
(Châm 14:30) "Lòng bình tịnh là sự sống của thân thể; Còn sự ghen ghét là đồ mục của xương cốt".
(Châm 15:30) "Sự sáng con mắt khiến lòng vui vẻ; Và một tin lành làm cho xương cốt được béo tốt".
(Ê sai 66:14) "Các ngươi sẽ thấy mọi điều đó, thì trong lòng được sự vui vẻ, và xương cốt các ngươi sẽ nẩy nở như cỏ non; tay Đức Giê-hô-va sẽ tỏ ra cùng tôi tớ Ngài, và Ngài sẽ giận nghịch cùng kẻ cừu địch".
(Giê 20:9) "Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa; tôi sẽ chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa".
(Giê 23:9) "Về các tiên tri: Lòng ta tan nát trong ta; xương ta thảy đều run rẩy; ta như người say, như người xây xẩm vì rượu, bởi cớ Đức Giê-hô-va và những lời thánh của Ngài".

3/ Chúng ta ngồi cô đơn một mình (sit alone) giống các con chim trong đồng vắng (birds in a desert) và các bịnh nhân chờ chết trong bịnh viện (dying patients in a hospital). Thật là ngã lòng làm sao (how depressing).
(Thi 102:5-9) "5 Vì cớ tiếng than siếc của tôi, Xương cốt tôi sát vào thịt tôi. 6 Tôi trở giống như con chàng bè nơi rừng vắng, Khác nào chim mèo ở chốn bỏ hoang. 7 Tôi thao thức, tôi giống như Chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà. 8 Hằng ngày kẻ thù nghịch sỉ nhục tôi; Kẻ nổi giận hoảng tôi rủa sả tôi. 9 Nhân vì sự nóng nả và cơn thạnh nộ của Chúa, Tôi đã ăn bụi tro khác nào ăn bánh".
(1) Than siếc אֲנָחָה ['anachah] (groaning): Rên rỉ, than vãn.
(Thi 102:5) "Vì cớ tiếng than siếc của tôi, Xương cốt tôi sát vào thịt tôi".
* Thốt lên tiếng kêu trầm và buồn lúc đau đớn hoặc lúc biểu lộ sự đau khổ, thất vọng hoặc không tán thành (make a deep sound expressing pain, grief, or disapproval).
* Phàn nàn không diễn đạt thành lời nói (complain inarticulately).
* Một người buồn chán, mệt mỏi và không hứng thú (a boring person).
(Xuất 2:24) "Ngài nghe tiếng than thở chúng, nhớ đến sự giao ước mình kết lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp".
(Xuất 3:7) "Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân ta tại xứ Ê-díp-tô, và có nghe thấu tiếng kêu rêu vì cớ người đốc công của nó; phải, ta biết được nỗi đau đớn của nó".
(a) Latin "gravare": Làm đau lòng (grieve), hoặc cảm thấy sự đau buồn sâu sắc (suffer grief).
(b) Hy lạp (Greek) στεναγμός [stenagmos] (groanings): Tiếng rên rỉ, tiếng kêu sợ hãi. Do động từ στενάζω [stenazō]: Đau lòng, đau buồn.
* Gây nên nỗi đau buồn hoặc đau khổ nặng nề (cause grief or great distress).
(Công 7:34) "Ta đã đoái xem và thấy cảnh khó khăn của dân ta trong xứ Ê-díp-tô, ta đã nghe tiếng than thở của chúng nó, và xuống đặng giải cứu. Bây giờ hãy đến, đặng ta sai ngươi qua xứ Ê-díp-tô".
(Rô 8:26) "Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta".

(2) Thao thức שָׁקַד [shaqad] (wake / watch): Thức giấc, thức dậy, tỉnh ngủ, tỉnh dậy, tỉnh thức, thức canh, chăm chú chờ đợi.
(Thi 102:7) "Tôi thao thức, tôi giống như Chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà".
(a) Hy bá lai (Hebrew) שָׁקַד [shaqad] (wake): Ngừng ngủ (cease to sleep).
(Thi 77:4) "Chúa giữ mí mắt tôi mở ra; Tôi bị bối rối, không nói được".
(b) Latin "súgo -ere"; Hy lạp (Greek) ἡμᾶς [hēmas] (awake): Thao thức, tỉnh thức, thức dậy, vùng dậy, đứng dậy, không ngủ (arousing themselves from their slumber).
(Rô 13:11) "Hãy ăn ở như vậy, vì biết thời kỳ đang lúc chúng ta đây: giờ anh em từ ngủ thức dậy đã đến, bởi sự cứu hiện nay đã gần chúng ta hơn lúc chúng ta mới tin".
(Êp 5:14) "Cho nên có chép rằng: Ngươi đang ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi".

(3) Hiu quạnh בָּדַד [badad] (alone); Latin "solitudo" (solitude): Cô độc, biệt lập, ẩn dật, cô đơn. Do tính từ "solus" (alone): Một mình, đơn độc.
(Thi 102:7) "Tôi thao thức, tôi giống như chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà".
* Trạng thái hoặc tính chất cô độc (the state of being solitary).
* Không có bất cứ người nào ở bên cạnh (without others present).
* Không có sự giúp đỡ của người nào khác (without others' help).
* Cô đơn và bất hạnh (lonely and wretched).
(Ô sê 8:9) "Vì chúng nó đã lên A-si-ri, như con lừa rừng đi một mình; Ép-ra-im đã hối lộ cho những kẻ yêu nó".
(Thi 38:11) "11 Các người thương tôi và những bạn tôi đều đứng xa tôi, Còn bà con tôi ở cách xa tôi".
(Lu 23:49) "Song những kẻ quen biết Đức Chúa Jêsus và các người đàn bà theo Ngài từ xứ Ga-li-lê, đều đứng đằng xa mà ngó".

4/ Bạn đã từng trải qua những ngày như thế chưa? Nếu có, hãy cẩn thận.
* Đừng nhìn vào chính mình và những cảm xúc của mình (looking at yourself and your feeling), vì chỉ làm cho mọi sự thêm tồi tệ (only make things worse).
* Hãy làm như điều mà tác giả Thi thiên 102 đã làm. Hãy nhờ đức tin mà nhìn lên lên Chúa (look by faith to the Lord).
* Mọi sự sẽ khác hẳn khi bạn chuyển từ nhìn vào chính mình, sang nhìn lên Chúa (things will be different when you look from yourself to God).

III/ BẠN SẼ TỒN TẠI (you shall endure).

(Thi 102:12-22) "12 Nhưng, Đức Giê-hô-va ơi, Ngài hằng có mãi mãi, Kỷ niệm Ngài lưu từ đời nầy sang đời kia. 13 Chúa sẽ chổi dậy lấy lòng thương xót Si-ôn; Nầy là kỳ làm ơn cho Si-ôn, Vì thì giờ định đã đến rồi. 14 Các tôi tớ Chúa yêu chuộng đá Si-ôn, Và có lòng thương xót bụi đất nó. 15 Bấy giờ muôn dân sẽ sợ danh Đức Giê-hô-va, Và hết thảy vua thế gian sẽ sợ sự vinh hiển Ngài. 16 Khi Đức Giê-hô-va lập lại Si-ôn, Thì Ngài sẽ hiện ra trong sự vinh hiển Ngài. 17 Ngài sẽ nghe lời cầu nguyện của kẻ khốn cùng, Chẳng khinh dể lời nài xin của họ. 18 Điều đó sẽ ghi để cho đời tương lai, Một dân sự được dựng nên về sau sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va; 19 Vì từ nơi thánh cao Ngài đã ngó xuống, Từ trên trời Ngài xem xét thế gian, 20 Đặng nghe tiếng rên siếc của kẻ bị tù, Và giải phóng cho người bị định phải chết; 21 Hầu cho người ta truyền ra danh Đức Giê-hô-va trong Si-ôn, Và ngợi khen Ngài tại Giê-ru-sa-lem, 22 Trong lúc muôn dân nhóm lại Với các nước, đặng hầu việc Đức Giê-hô-va".

1/ Nếu bạn nhìn biết Chúa Giê su bởi đức tin (know Jesus Christ by faith) bạn sẽ sở hữu được sự sống đời đời (you possess eternal life).
(I Giăng 5:11-13) "11 Chừng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. 12 Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống. 13 Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời".

2/ Do đó, dù bạn sống trong một thế giới của sự chết và hư nát (living in a world of death and decay), thì cũng không phải là một sự đe dọa đối với bạn. Bởi vì bạn sẽ sống đời đời với Chúa (you will live forever with the Lord).
(I Tê 4:13-18) "13 Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. 14 Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jêsus cùng đến với Ngài. 15 Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi. 16 Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. 17 Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. 18 Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau".

IV/ BẠN CŨNG NHƯ THẾ (you are the same).
(Thi 102:25-28) "25 Thuở xưa Chúa lập nền trái đất, Các từng trời là công việc của tay Chúa. 26 Trời đất sẽ bị hư hoại, song Chúa hằng còn; Trời đất sẽ cũ mòn hết như áo xống; Chúa sẽ đổi trời đất như cái áo, và nó bị biến thay; 27 Song Chúa không hề biến cải, Các năm Chúa không hề cùng. 28 Con cháu tôi tớ Chúa sẽ còn có, Dòng dõi họ sẽ được lập vững trước mặt Chúa".

1/ Khi bạn lớn tuổi (grow older), bạn sẽ khám phá rằng bạn không thích sự thay đổi (resisting change). Những ngươi thân yêu đi xa hoặc qua đời (move away or die); thân thể bạn mỗi ngày mỗi yếu (your body weakens), thế giới biến đổi (the world change)... Tất cả những điều ấy dễ dàng khiến cho bạn cay đắng và sợ hãi (become bitter and afraid).

2/ Nhưng, Đức Chúa Trời không thay đổi (God does not change).
(Hê 13:5-8) "5 Chớ tham tiền; hãy lấy điều mình có làm đủ rồi, vì chính Đức Chúa Trời có phán rằng: Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu. 6 Như vậy, chúng ta được lấy lòng tin chắc mà nói rằng: Chúa giúp đỡ tôi, tôi không sợ chi hết. Người đời làm chi tôi được? 7 Hãy nhớ những người dắt dẫn mình, đã truyền đạo Đức Chúa Trời cho mình; hãy nghĩ xem sự cuối cùng đời họ là thể nào, và học đòi đức tin họ. 8 Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi".

3/ Đức Chúa Trời là bạn và là người hướng dẫn của bạn đến cuối cùng (He is your Friend and Guide to the very end).
(Thi 73:24) "Chúa sẽ dùng sự khuyên dạy mà dẫn dắt tôi, Rồi sau tiếp rước tôi trong sự vinh hiển".

4/ Những điều tạm thời sẽ thay đổi (the temporary things will change), nhưng những sự đời đời sẽ tồn tại lâu dài (the things eternal will last).
(II Cô 4:11-18) "11 Bởi chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Đức Chúa Jêsus mà hằng bị nộp cho sự chết, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng được tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng tôi; 12 vậy thì sự chết làm trong chúng tôi, còn sự sống trong anh em. 13 Vì chúng tôi có đồng một lòng tin, y như lời Kinh Thánh rằng: Ta đã tin, cho nên ta nói, cũng vậy, chúng tôi tin, cho nên mới nói, 14 vì biết rằng Đấng đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại, cũng sẽ làm cho chúng tôi sống lại với Đức Chúa Jêsus, và làm cho chúng tôi ứng hầu với anh em trước mặt Ngài. 15 Bởi chưng mọi điều đó xảy đến vì cớ anh em, hầu cho ân điển rải ra cách dư dật, khiến sự tạ ơn nơi nhiều người hơn cũng dư dật, mà thêm vinh hiển cho Đức Chúa Trời. 16 Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. 17 Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên, 18 bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy".

KẾT LUẬN.


1/ Thi thiên 102 là một lời cầu nguyện của một người bị đau khổ (a aflicted man) và kiệt sức (faint)
(Thi 61:2) "Khi tôi cực lòng, tôi sẽ kêu cầu cùng Chúa từ nơi cực địa; Xin hãy dẫn tôi lên hòn đá cao hơn tôi".
(Thi 77:3) "Tôi nhớ đến Đức Chúa Trời, bèn bồn chồn; Than thở, và thần linh tôi sờn mỏi".

2/ Một sự đau đớn quá lớn, nó làm héo khô cả thể xác và tâm hồn (withers body and spirit). Nỗi đau đớn ấy đến bởi:
* Sự trừng phạt của Đức Chúa Trời (by a visitation of God's wrath).
(Thi 102:10) "Và lấy giọt lệ pha lộn đồ uống tôi; Vì Chúa có nâng tôi lên cao, rồi quăng tôi xuống thấp".
* Và sự sỉ nhục của các kẻ thù (the mockery of his enemies).
(Thi 102:8) "Hằng ngày kẻ thù nghịch sỉ nhục tôi; Kẻ nổi giận hoảng tôi rủa sả tôi".

3/ Tác giả đã tuôn đổ những lời than van (pours out his lament) cùng lời cầu nguyện của ông lên trước mặt Đức Chúa Trời.
(Thi 102:1) "Hỡi Đức Giê-hô-va, xin nghe lời cầu nguyện tôi, Nguyện tiếng tôi thấu đến Ngài".
(Thi 102:17) "Ngài sẽ nghe lời cầu nguyện của kẻ khốn cùng, Chẳng khinh dể lời nài xin của họ".
(Thi 64:1) "Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy nghe tiếng than thở tôi, Gìn giữ mạng sống tôi khỏi sợ kẻ thù nghịch".

4/ Thi thiên 102 bảo đảm rằng:
* Đức Chúa Trời là vua đời đời (King eternal) chắc chắn sẽ nghe lời cầu nguyện của người cơ cực (surely hear the prayer of the destitute).
(Thi 102:17) "Ngài sẽ nghe lời cầu nguyện của kẻ khốn cùng, Chẳng khinh dể lời nài xin của họ".
* Dù hoàn cảnh cuộc đời có thể thay đổi, nhưng Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi (the Lord does not change). Nên hãy tin cậy Đức Chúa Trời.
(Thi 102:27) "Song Chúa không hề biến cải, Các năm Chúa không hề cùng".
(Hê 13:8) "Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi".
(Gia 1:17) "mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào".